KỶ NIỆM 40 NĂM THÀNH LẬP HỘI VHNT ĐỒNG NAI
BIÊN HÒA – THÀNH PHỐ TÔI YÊU

Tôi sinh ra từ vùng quê của “chị Hai năm tấn”. 19 tuổi, tôi rời quê lúa đến với vùng đất đỏ miền Đông. Bao nhiêu năm rời xa vùng quê Đồng bằng Bắc bộ là bấy nhiêu năm tôi gắn bó với Đồng Nai. Biên Hòa rộng lòng bao dung tôi, cùng tôi đi suốt những tháng năm tuổi trẻ. Bao nhiêu nông nổi, vụng về, bao nhiêu đắm say, khờ dại, Biên Hòa rộng lòng chia sẻ cùng tôi…

Những ngày đầu “Nam tiến”, mọi thứ dường như quá xa lạ với cô nữ sinh vừa hoàn thành chương trình học THPT. Tôi thực sự choáng ngợp trước vẻ hoành tráng của những khu công nghiệp, những nhà máy, xí nghiệp nối dài. Đã quen với cánh đồng thẳng cánh cò bay, trải dài tít tắp, quen với cây đa, giếng nước, sân đình, lần đầu đặt chân đến một “Thành phố công nghiệp”, trong mắt tôi điều gì cũng mới. Với lịch sử hơn 300 năm hình thành và phát triển, Đồng Nai khi đó đã trở thành nơi các doanh nghiệp tìm về hội tụ, Biên Hòa trở thành một địa chỉ uy tín thu hút hàng triệu lao động từ khắp nơi về đây, với hàng chục ngàn doanh nghiệp và hàng ngàn dự án đầu tư nước ngoài. Song sự hoành tráng, hiện đại nơi đây vẫn không che khuất được hình ảnh quê hương trong tâm trí “cô Bắc kỳ nho nhỏ”. Tôi buồn đến rã rời. Lại nghĩ đến những mắng yêu, dặn dò gần như khóc của mẹ: “Bố nhà cô! Con gái xa đâu ấm đấy, cũng đến lúc phải rời bố mẹ chứ. Rồi sau này đi lấy chồng nữa thì sao…”, tôi gồng mình lên chống chọi với nỗi nhớ: Nhớ gia đình, nhớ bè bạn, nhớ mùi thơm thơm - khen khét của đống lửa đốt lá bàng chiều cuối đông… Tất cả, tôi gói ghém cẩn thận, giấu thật sâu tận đáy lòng, cố gắng vượt qua những nũng nịu nửa trẻ con nửa người lớn, bắt đầu lao vào việc học tại nơi này. Rồi lại tự an ủi: Khi thời gian đủ dài, chắc chắn mình sẽ thích nghi được với mảnh đất “Nhà Bè nước chảy chia hai…”.


495E394C-095E-4407-AF26-12D927F12CB1.jpeg

Tác giả Huyền Quy (ngồi giữa) trong một chuyến thực tế sáng tác



Tôi bắt đầu quen dần cuộc sống phương Nam xa xôi. Khẩu vị cũng từ từ thích nghi với người Nam bộ. Chén nước mắm gừng nhiều vị ngọt nơi Quán ốc 67 không làm tôi quá khó chịu. Những món ăn đặc sản mà vô cùng dân giã với đủ các loại rau như gỏi cá, chả lụi, bánh xèo… hấp dẫn được tôi ghê gớm. Vẫn giọng nói đặc trưng của người Bắc, nhưng tôi gọi “thịt heo”, “tô phở”, “bình bông”… Bên “người bạn đường đau khổ” là chiếc xe đạp mini cũ, tôi cùng cô bạn thân người Quảng Trị chở nhau rong ruổi khắp mọi nẻo đường. Cứ buổi chiều về, hai đứa khăn gói sách vở, nước nôi… đạp xe đi. Khi thì Công viên bờ kè (từ ngữ thân thương mà bọn nhất quỷ nhì ma chúng tôi dành cho công viên Nguyễn Văn Trị), khi thì Thư viện, lúc lại Quảng trường tỉnh, có khi là Văn miếu Trấn Biên, Chùa Ông, Chùa Đại giác… cứ nơi nào yên tĩnh, thuận lợi cho việc học, hai đứa chẳng thể bỏ qua. Vừa được trao đổi kiến thức trong không khí trang nghiêm, lại được ôn bài qua việc tập đọc, tập tra từ điển những chữ, những câu đối khắc bằng tiếng Hoa phồn thể. Mỗi khi nỗi buồn ghé thăm, chúng tôi lại đến bên dòng Đồng Nai, thả những bay bổng viển vông trôi theo từng khóm lục bình tím biếc… Cứ thế, suốt 4 năm đại học, chẳng còn nơi nào chúng tôi không đặt chân đến. Những di tích gắn với các danh nhân, danh tướng trong lịch sử nước nhà mà cống hiến to lớn của họ được người Đồng Nai ghi công, tưởng nhớ và cung kính tôn thờ như phúc thần của làng xã: Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, Đền thờ Nguyễn Tri Phương, Đền thờ Đoàn Văn Cự, Đền thờ Trần Hưng Đạo, Lăng mộ Trịnh Hoài Đức…Sau này, điều kiện công việc cho phép tôi được tìm hiểu, tham quan cả những hệ thống di tích lịch sử phản ánh tinh thần bất khuất, kiên cường: Thành cổ Biên Hòa, chùa Cô Hồn, Địa đạo Nhơn Trạch, Căn cứ khu ủy miền Đông, Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Căn cứ Tỉnh ủy Biên Hòa, Căn cứ Rừng Sác, Địa điểm thành lập chi bộ Đảng Bình Phước – Tân Triều và Tỉnh ủy lâm thời Biên Hòa, Nhà hội Bình Trước, Địa điểm Chiến thắng La Ngà… Và cứ thế, tôi đắm chìm, say xưa trong văn hóa Đồng Nai. Sự đa dạng độc đáo, đặc sắc và riêng biệt của vùng mới phương Nam như “thỏi nam châm” cuốn hút lấy tôi.

Gia nhập ngôi nhà chung là Hội VHNT Đồng Nai là một bước ngoặt “lịch sử”  lớn lao và đáng kể nhất trong “sự nghiệp” bé tẹo của tôi. Sinh ra trong một gia đình yêu nghệ thuật, suốt ấu thơ, và cả những tháng ngày trưởng thành, tôi lớn lên trong tiếng đàn Mandoline của ông nội, tiếng Tây Ban cầm và tiếng kèn Hacmonica của bố, cùng giọng đọc ấm áp, truyền cảm mà cả nhà đợi mong vào thời khắc cuối ngày phát ra từ chiếc radio tí xíu chạy bằng pin trong chương trình Đọc truyện đêm khuya. Có lẽ vì thế, mà “số phận”, hoàn cảnh “xô đẩy”, đưa tôi đến công tác tại Hội VHNT, để tâm hồn tôi được tiếp tục nuôi dưỡng bằng nghệ thuật. Mỗi ngày, được thưởng thức những tác phẩm thơ ca, nhạc họa, tôi không đơn thuần chỉ là một người yêu nghệ thuật nữa. Tôi viết văn, làm thơ, và cầm máy ảnh tự bao giờ!

Những ngày đầu về Hội, tôi đảm nhận công việc của một chuyên viên phòng nghiệp vụ, phụ giúp Nghệ sĩ Ưu tú Bích Ngọc tổ chức các trại sáng tác, các cuộc thi VHNT trên địa bàn tỉnh. Theo chân những nhà văn, nhà thơ, những nhạc sĩ, họa sĩ, nhiếp ảnh gia đi tham quan, thực tế sáng tác, tôi bị “lây” cái “máu văn nghệ” tự lúc nào. Từ một nhân viên xuất nhập khẩu, một thông dịch viên mà vốn từ vựng hàng ngày chỉ xoay quanh tờ khai hải quan, phương tiện vận tải, bảo hiểm trong ngoại thương, thủ tục thanh toán quốc tế, bỗng nhiên tôi trở nên hoạt ngôn lạ, xuất khẩu thành… văn vần, có đôi lúc thành thơ luôn, tuy không phải do mình nhất thời ứng phó kịp, nhưng cũng là thơ, văn, ca từ của các nghệ sĩ có tiếng. Chặng đường thay đổi tích cực trong ngôn ngữ giao tiếp của tôi không tính bằng năm, mà là bằng tháng, bằng tuần lễ… Thế nên chẳng có gì là khó hiểu khi nửa năm sau, tôi được lãnh những đồng nhuận bút đầu tiên trong cuộc đời từ bài ký về chuyến đi thăm ngôi trường hơn một trăm năm tuổi của thành phố Biên Hòa - Trường Tiểu học Nguyễn Du. Hạnh phúc lắm, phấn khởi lắm cái ngày công đầu tiên của… con Rùa ở lĩnh vực nghệ thuật. Tôi nhớ mãi lời nhận xét của Nhà văn Trần Thu Hằng khi nhờ chị đọc và cho ý kiến góp ý, bởi chưa tự tin ở chính bản thân mình: nhất định em sẽ có những bước tiến dài trong văn chương. Nhà văn ơi, dù chỉ là những lời động viên thôi, nhưng em biết ơn chị nhiều lắm lắm! Chị đã khích lệ em, đưa em ra khỏi “vỏ ốc” của chính mình. Chưa được như mong đợi của chị, song em vẫn chập chững trên con đường đến với thơ, văn, và giờ đây là cả những bức ảnh nghệ thuật…

Hội VHNT, mảnh đất Đồng Nai “gian lao mà anh dũng” ngàn đời “thương người xa xứ” từ bao giờ thẫm đẫm trong tôi, khiến tôi mến yêu đến từng tên người, tên đất. Trong tôi lại ngập tràn một cảm giác gần gũi, ruột thịt với mảnh đất 15 năm qua mình gắn bó. Không phải quê hương, nhưng với tôi, Biên Hòa là sứ xở, “chưa đi đã nhớ, chưa về đã thương”. Không phải là mái ấm, nhưng Hội VHNT Đồng Nai là ngôi nhà thứ hai mà tôi dù có đắm say vẻ đẹp xứ sở nào đi nữa, có sải cánh tung bay ở phương trời nào đi chăng nữa, vẫn muốn trở về, để được vỗ về, bao bọc và yêu thương.

 

Huyền Quy