Mảnh đất ba ngàn mét vuông nằm ở khu phố ven sông đông đúc. Bao
năm rồi bà Ba vẫn trồng, hái trên mảnh đất ấy như từ những năm bốn mươi của thế
kỷ trước.
Lẽ thường, đất ven sông thường là nơi dân bản xứ sinh sống. Người
sống ở rẻo đất ven dòng Đồng Nai này không là dân Biên Hòa gốc cũng dân Tân
Uyên, Tân Ba, mạn Bình Dương qua và đã an cư nhiều đời. Quen rồi, quen đất,
quen hàng xóm, đi đâu cho bằng nơi này. Khu phố dở xóm dở phố nên vừa có tình
làng nghĩa xóm, lại vừa có hiện đại, văn minh; không nghèo, không luộm thuộm đến
mức để dân ngụ cư tứ chiếng đến dựng chòi làm nhà vạ vật; cũng không đẹp đến mức
như những khu nhà giàu xây biệt thự triệu đô ven sông nhưng vui vẻ và đầm ấm. Vậy
nên bao năm qua, hết thế hệ này sang thế hệ khác người dân cùng chung sống, gắn
bó và hài lòng với cuộc sống trên mảnh đất này. Người ta được sinh ra, lớn lên,
đi học, đi làm, lập gia đình, đau ốm hay cả đến lúc lìa trần, đến cuối con đường
thì cũng vẫn đi cùng nhau.
Nhà bà Ba cặp mé sông, một con sông dẫu xa biển lớn nhưng vẫn chịu
ảnh hưởng của thủy triều. Khi nước lớn, tùy theo mùa, mặt sông như một tấm thảm
nâu đỏ hay xanh ngắt, căng phồng và rộng mênh mông. Ngồi mé sông, nhắm mắt riu
riu hóng mát, nghe tiếng nước vỗ ì oạp, óc ách lên bờ thấy như mình được an ủi,
vỗ về. Rồi nước chấm cây cầu bê tông, trườn cả lên con dốc nhỏ, liếm nhẹ vào bờ;
khi rút đi còn lưu lại những ngấn nước như ngầm đánh dấu “lãnh hải” của mình.
Những khi nước lớn cũng là lúc gió sông lồng lộng thổi mát rượi, đê mê. Sông Đồng
Nai là dòng sông nội địa dài và lớn nhất Việt Nam, bà Ba biết và tự hào về điều
đó ghê lắm. Nhất Việt Nam chớ đâu phải chuyện xoàng. Trong khi xứ miền Đông, rồi
cả miền Tây, nghe nói những dòng sông chết, sông ô nhiễm thì trên dòng Đồng Nai
này, thế kỷ 21 nhưng dân xóm sông vẫn mang quần áo, mùng mền ra sông giặt giũ
bình thường.
Căn nhà cấp bốn nhỏ và thấp được ông Ba xây dựng từ trước Giải
phóng. Xây rồi, ở được đâu hai năm thì ông đi xa. Bà Ba giữ căn nhà làm kỷ niệm
là lẽ thường tình nhưng mỗi lần dựng vợ, gả chồng cho bầy con sáu đứa, bà quyết
không cho xây mới. Bà chỉ cho cơi nới thêm một gian khoảng ba chục mét vuông. Một
bên là bờ tường chung, mái lợp tôn và… không được cao hơn nhà cũ. Cứ như thế,
căn nhà của đại gia đình bà Ba càng nở thêm khi bốn cậu con trai và hai cô con
gái lập gia đình. Cưới dâu và bắt rể, tất tật đều về chung, cùng tá túc trên mảnh
đất ven sông ba ngàn mét vuông do bà Ba đứng tên sổ đỏ. Ba ngàn mét vuông ở
sông phố nào có ít ỏi gì. Đại gia nhìn mảnh đất nhà bà Ba, thèm như đàn bà chửa
thèm chanh mà không biết làm cách nào để có thể thành chủ sử dụng mảnh đất ấy.

(Minh họa: Hứa Anh Tuấn)
Kể ra tính bà Ba cũng lạ. Có người còn nói thẳng: tính bả chứng.
Không chứng sao khư khư giữ miếng đất. Đành rằng đất nghĩa, đất tình đầy kỷ niệm
nhưng con cái cũng sắp thành người cao tuổi, nhiều nhà cũng có cháu rồi, bà
cũng cần tạo điều kiện cho con cháu, chắt có chỗ ở khang trang để còn mát mày mát
mặt với anh em bạn bè. Cứ chia ra, cho con cái chuyển mục đích để cất nhà đàng
hoàng mà ở. Cuộc sống biết ngắn hay dài mà không hưởng thụ, cứ bo bo giữ đất
trong khi nhà nào cũng chật chội còn đất thì rộng mênh mông.
Nhưng bà Ba có lý của bà. Hồi tụi bay còn nhỏ, nhà tám người, thêm
ông bà Nội bây nữa là mười, tất cả ở chung căn nhà cũ kia có thấy chật chội gì
đâu. Giờ bây kêu chật, kêu nóng nực đòi chia, đòi cắt. Nóng nực nỗi gì, nhà bên
sông mát mẻ, sướng bằng Tiên. Chia cắt làm gì. Chia cắt đất là chia cắt tình
anh em, dòng họ, tổ tông. Chia rồi, mỗi đứa dựng một nhà và bốn bức tường rồi ở
yên trong đó, biết anh em có còn nhìn thấy mặt nhau. Chia đất là tan đàn sẻ
nghé; còn nữa, ai dám chắc bay không bán hay đổi để ra nhà mặt phố. Đất tao giữ
là giữ cho bay, cho con, cho cháu, tao còn sống là đất này không được mẻ một
dem!
Vậy là hiểu, tính bà Ba đã nói gì thì đừng hòng lay chuyển. Ý bà
là ý Trời. Không cứng tay chèo, sao bà có thể một mình nuôi dạy đàn con nên người?
Vậy nên đất cứ rộng và nhà thì cứ chật. Ngoài phần đất dựng nhà, có một khoảng
sân chung để đậu xe, đặt vài bộ bàn ghế đá. Vài gốc mít, gốc xoài để lấy bóng
mát và một vườn rau. Mà bi kịch lớn nhất nằm ở vườn rau.
Công bằng mà nói thì vườn rau đảm bảo nguồn rau xanh và trứng sạch
cho đại gia đình; hàng xóm cũng được cậy nhờ, thậm chí còn giúp bà Ba có thêm
tiền chợ. Khu vườn rộng, dưới bàn tay chăm sóc của bà Ba gần như chẳng thiếu rau,
củ, quả gì của xứ miền Đông này. Vườn rau xanh mướt được bao bằng những quấn
quýt của giậu mùng tơi, đậu que, đậu đũa và giàn mướp, giàn bầu. Góc này là thấp
thoáng vàng hực hay đỏ chót của những trái cà quá lứa, đám ớt sừng; góc bên kia
là tím ngắt của đậu biếc, cà tím, lá tía tô hay trắng muốt của những luống bông
hành, bông hẹ… Đằng tây là ngan ngát mùi thơm cả các loại chanh, sả, rau thơm.
Phía đằng Đông khu vườn là chuồng gà, vịt mà mỗi sáng bà Ba vẫn xách rổ ra lượm
trứng. Khu vườn đủ sức cung cấp rau xanh và gia vị cho một đầu bếp khó tính
nhưng tài ba, có sở thích nấu món ăn của cả ba miền Bắc, Trung, Nam.
Vậy nhưng các con bà Ba không vui vì cái quyền được ăn thực phẩm sạch
miễn phí ấy. Lý do cũng dễ hiểu. Là bởi mấy chục năm, bà Ba ngày hai bận sáng
và chiều lụm cụm xuống sông múc nước đầy hai xô rồi bỏ lên xe rùa đẩy về… tưới
tắm rồi làm đất, trồng rau. Con cháu cũng đi học, đi làm, nào có đến nỗi gì
nhưng mẹ lúc nào cũng áo quần bạc phếch, nón lá cũ mèm và lấm lem bùn đất như
thể bị… bạc đãi lắm. Sau lần khoảng đâu năm hai ngàn, bà té gãy tay phải nghỉ
ngơi hai tháng thì mấy người con phải thay phiên nhau duy trì màu xanh của vườn
nhưng việc tưới tắm được cơ giới hóa bằng một máy bơm điện. Mỗi sáng sớm, các
anh con trai, con rể thay phiên nhau bơm nước vào chiếc hồ vừa rộng vừa cao. Hồ
ấy, bà Ba tưới tắm, giặt rửa cả ngày chưa hết.
Nhưng điều những người con, cháu sợ hãi là nguyên tắc bắt buộc phải
giữ lại sản phẩm của quá trình bài tiết và công thức pha chế thứ phân đạm dạng
lỏng để tưới cây. Một thứ mùi khai gắt và hung hãn xộc vào từng nhà mỗi ngày.
Chưa hết, sau một hai tháng là công thức làm đất trộn phân chuồng gà để tăng độ
mùn cho đất. Khu vườn ở giữa các nhà, bởi vậy nhìn rau thì thích mắt nhưng bị
các loại mùi ám ảnh thì việc thưởng thức, dù là rau có lá rách, không thuốc sâu
và miễn phí nhưng vẫn khiến sự thích thú giảm đi. Chưa kể ăn rau vườn mãi cũng
chán, con cháu cũng cần “nghỉ giải lao” với cây nhà lá vườn, nhưng lỡ bà Ba biết,
bà ghép cho tội chê bai rau mẹ trồng cũng mệt mỏi với bà.
Có phản đối, có góp ý, có năn nỉ và giận dỗi nhưng ý bà Ba là ý Trời.
“Ngọn cờ” truyền thống, tổ tiên luôn được bà giương cao để phản bác mọi ý kiến
trái chiều. Mà truyền thống của bà là thực phẩm phải tự cấp tự túc, là tiết kiệm;
là ăn nhiều chứ ở bao nhiêu; là anh em thì phải quây quần… toàn những nguyên tắc,
giáo điều từ thời những năm một ngàn chín trăm lâu lắm. Bi kịch nhất là khi những
người con lớn lên, đưa bạn trai, bạn gái đến thăm nhà. Những khi ấy phải dọn dẹp,
xử lý khu vườn sao cho ổn thỏa rồi giải thích đủ thứ. Rồi những nàng dâu, chàng
rể cũng quen dần với nếp trong nhà. Quen nhưng không thích và khó thích nghi. Vậy
nên mẹ con sống gần mà tựa hồ như mỗi ngày thêm xa nhau.
Hàng xóm vui có, bất tiện có. Vui vì thi thoảng được cho rau, lúc
cần mấy cọng rau thơm, trái ớt hay cọng bạc hà, ào qua xin là có, nhưng lại sợ
mấy nấm mộ, sợ rắn rết dưới sông, theo dòng nước thấy khu vườn tươi tốt nhà bà
Ba là ghé tá túc, trèo lên cây, trườn trên tường, rớt xuống lối đi để dọa nạt mọi
người.
Đã có ý kiến nên chia đất, chia đều trai gái. Ban đầu còn giấu giấu
giếm giếm nói sau lưng bà Ba, sau anh Hai thay mặt đàn em thưa chuyện thẳng với
mẹ: Chúng con cũng sắp già cả rồi, đất đai cha mẹ vất vả cực khổ mới tạo lập được.
Chúng con biết mong muốn của mẹ là giữ gìn cho chúng con để anh em quây quần.
Nhưng muốn quây quần thì phải hợp pháp. Đất nhà mình chủ yếu là đất nông nghiệp,
nhưng ngày nay chúng con đều đã có công ăn việc làm, cuộc sống không phụ thuộc
vào việc trồng cấy trên đất nữa. Chúng con đều có gia đình riêng, các cháu của
mẹ cũng lớn và nhiều đứa đã lập gia đình nên cần không gian riêng tư. Vậy nên
đã đến lúc phải chuyển mục đích thì đất nhà mình mới thành đất ở; có đất ở thì
nhà cửa của chúng con mới hợp pháp. Vậy nên xin mẹ cắt đất để con cháu hoàn tất
thủ tục đất đai mà an tâm an cư lạc nghiệp và quây quần cùng nhau.
Anh Hai chỉ dám nói đến vậy, chưa dám hé ra chuyện đất ven sông thường
được quy hoạch thành đất công cộng, không biết nhà nước thu hồi khi nào. Mà tái
định cư chỉ bố trí theo chủ đất, không theo chủ hộ. Vậy nên nói xui, lỡ ba ngàn
mét vuông này phải thu hồi thì đại gia đình bà Ba cũng chỉ được… một suất tái định
cư là chắc. Một lô tái định cư cho hơn hai chục con người không biết sẽ sống ra
sao. Bởi vậy mấy anh em lo, phấp phỏng lo.
Dù anh Hai nói có lý, có tình vậy nhưng bà Ba vẫn nổi trận lôi
đình. Bà giận, mà khi giận người ta thường nói nhiều lời mất khôn: Hà cớ gì bay
không yên tâm. Má chết, đất để phần tụi bay chứ phần cho ai. Đất của ông bà, tổ
tiên; trên đó còn bốn ngôi mộ, cả mộ của ông cha. Giờ đất lên giá, phải tụi bay
đòi cắt để bán. Bán đất là bán cả tổ tiên nghe không. Nghe lời tụi bay, má đã
bán đất này từ mấy chục năm rồi thử hỏi nay còn gì mà bàn chuyện chia, chuyện cắt.
Nghe mà buồn.
Mẹ đã chẳng tin con lại còn nghĩ xấu. Quả là có chuyện các con có
ý đại gia đình cùng chuyển chỗ ở nhưng là chuyện từ rất lâu. Vậy nên chẳng ai
còn hứng thú hay đủ lớn gan mà nói chuyện khuyên với nhủ mẹ.
Rể Út trong một lần nhậu say, liều mạng phát ngôn:
- Nhà gì, dở nhà trọ, dở lều chợ mà cũng chẳng khác… ấp chiến lược.
Ở nhà này bao năm cũng giống người coi đất mướn!
Nói xong câu đó chả biết rể Út có nhớ không nhưng mấy ngày sau, thấy
mặt bà Ba rể né. Tháng sau thì nhà cô Út ra ở riêng. Ra nhưng cũng phải kiếm lý
do nói khéo cho lọt tai bà Ba: Hai vợ chồng con là công nhân, ca kíp tối ngày
nên kiếm nhà gần công ty để đi lại cho tiện. Mà tụi con công nhân kỹ thuật, có
thâm niên nên lương cũng ổn, má không phải lo lắng chuyện kinh tế cho chúng
con; ra ngoài tự lập gia đình con sẽ có động lực phấn đấu hơn và sẽ thường
xuyên về thăm Má cùng đại gia đình. Cuối tuần tụi con sẽ về với má.
Theo gương cô Út, chỉ trong vòng năm trời, đàn con tìm xong các lý
do để ra ngoài. Người lấy lại nhà cho thuê; người mua nhà trả góp; thuê nhà ở
xã hội; người nói bên Nội, bên Ngoại kêu về cho nhà... Lý do nào cũng hợp lý,
nhu cầu nào cũng chính đáng, bà Ba bất lực nhìn đàn con, đàn cháu rời xa mình
mà không cách nào giận con được. Chỉ có anh Hai là ở lại, vì... không thể không
ở lại.
Ba ngàn mét vuông đất, nếu lên thổ cư, giá bây giờ ba chục triệu một
mét vuông. Mảnh đất trồng rau lá rách quả là một núi tiền, vậy mà giờ vắng người
nên càng mênh mông rộng. Mỗi tháng vào tuần trăng, con nước vẫn lớn, và cô đơn
óc ách vỗ bờ; những người nhìn, người nghe, xuýt xoa chuyện nước lớn, gió mát,
trăng thanh đã chuyển đi gần hết rồi. Vườn rau vẫn còn đấy nhưng con cái ở xa, ít
hái lặt nên thành um tùm, chỗ trổ bông, nơi ra trái; rồi trái già cũng chẳng thấy
bàn tay người chạm vào. Bà Ba cũng già, cũng bớt mê đất với chuyện chăn, việc
trồng rồi…
Bà Ba vẫn lụm khụm xới đất, trồng rau, nhổ cỏ, bón phân trên mảnh
đất đấy nhưng lặng lẽ, âm thầm hơn. Xóm người ta trách bà già bảo thủ và cố chấp,
khăng khăng giữ miếng đất để đàn con, cháu giờ tứ tán. Phải xa mảnh đất của mẹ,
ai chắc con cháu không buồn. Người ta khen đàn con của bà ngoan; không ngoan
sao lên ông, lên bà rồi mà mẹ nói gì cũng nghe răm rắp. Người ta phục tài điều
binh khiển tướng của bà Ba; thời này, anh em, cha con đánh chém nhau, từ mặt
nhau, tù tội cũng vì đất, vậy mà…
Cuối tuần con cháu ào về nhưng có đứa này, thiếu đứa nọ, chẳng khi
nào đông đủ. Bà Ba ray rứt khi bầy con nói loáng thoáng chuyện không đâu mát mẻ
bằng nhà mình. Ra ở ngoài phố, về nhà là bật máy lạnh, tháng tốn bộn tiền điện
mà sáng dậy người không sảng khoái như hồi ở bên sông. Nhưng thấy rõ chúng vui
hơn hồi ở cùng bà. Bà cũng đã thấm nỗi buồn hiu quạnh. Buồn nhất là vào ban
ngày, khi gia đình anh Hai đi làm, đi học vắng, chỉ còn mình bà với ba ngàn mét
vuông đất bờ sông. Những lúc ngồi xới đất, nhổ cỏ, bà thấy như có ai đó nói nhỏ
vào tai mình, dai dẳng, khó chịu: “Bà Ba trồng rau làm gì?”; “Đất của mẹ rộng
mà con phải đi ở trọ, ở nhờ”; “Bà đang sai đấy, bà Ba ơi!”... Bà nhìn quanh, kiếm
người hay nói nhỏ vào tai mình nhưng không thấy; chỉ thấy giàn mướp đầy trái
già, chờ ngày lấy xơ rửa chén; thấy những giàn đậu đũa, đậu que, cả đậu bắp
già, khô trắng xác neo đầy trên cây. Chẳng bù cho lúc trước, trái ra không kịp
hái bởi mỗi chiều các con gái, con dâu lại mang rổ ra hái hái, tìm tìm trong những
chùm lá, vui rộn ràng. Bà thảng thốt với
suy nghĩ, cứ đà này, không chừng con cháu cũng dần xa nhau…
Ban đầu bà Ba nghĩ các con rủ nhau đi để tạo áp lực lên mẹ, vài bữa
lại quay về. Các con cũng như bà, gắn bó với mảnh đất này bao năm, đi sao đành.
Nhưng rồi bà thấy mình đã nhầm. Sáu tháng rồi một năm qua, bà thấy gia đình nào
ra ngoài cũng vui vẻ, thoải mái hơn xưa thì rõ là con cháu bà đang đi tìm cuộc
sống riêng của nó. Bà cũng đến thăm từng nhà, nhà nào cũng đẹp đẽ, rộng rãi đảm
bảo cho một cuộc sống tiện nghi, thoải mái và hạnh phúc hơn. Chưa nghe đứa nào
nói chuyện quay về. Mảnh đất của bà, giờ nhiều chỗ cỏ đã phủ um tùm. Bà cũng
già, yếu rồi mà bây giờ chăm, trồng cũng không biết để làm gì. Và khi đêm về,
bà ngồi trước hàng hiên mát rượi, nghe sóng nước tỉ tê, nhìn trăng rồi ngủ gật
ngủ gà, nghĩ đến con, cháu ở đâu đâu mà xót. Lúc trước, những đêm trăng thanh,
gió mát là con, cháu bà ngồi kín những ghế đá trong sân nhà, nói cười, ăn uống,
đàn hát cùng nhau. Vậy mà giờ này… Bà nhớ, nghĩ mà xót, bà biết mình phải quyết
sớm trước khi mọi chuyện quá muộn.
Và bà quyết, nhanh gọn trong ngày giỗ ông. Mảnh đất ba ngàn mét
vuông tách thành sáu phần, chia đều để con nào cũng có đất mặt sông. Hai điều
kiện bà Ba đưa ra là không được xây tường rào và phần đất của ông Ba cùng tổ
tiên vẫn dành lại, trong khi bà còn sống; sau đó người đã khuất sẽ được thỉnh về
chùa vì “đất phải ưu tiên dành cho người sống và để phù hợp với nếp sống mới
bây giờ”.
Tôi về lại nơi này, một năm rưỡi sau ngày đám giỗ lịch sử ấy. Sáu
ngôi nhà khang trang, ngói đỏ tươi và hợp pháp đã mọc lên mà nhìn thoáng qua
cũng biết đó là nhà anh, nhà em. Ngôi nhà cũ mé sông ông Ba cất từ năm một ngàn
chín trăm lâu lắm vẫn còn đó nhưng tương lai nó sẽ được tháo dỡ để dành đất cho
Dự án Đường ven sông Đồng Nai, kéo dài từ cầu Hóa An, Thành phố Biên Hòa đến
giáp ranh huyện Vĩnh Cửu, một con đường tuyệt đẹp hứa hẹn sẽ góp phần lớn vào
việc thay đổi diện mạo của Thành phố Biên Hòa, một đô thị loại I của Đồng Nai.
Vẫn còn một khu vườn thu nhỏ của khu vườn rộng lớn ngày nào. Bà Ba
vẫn ra vườn nhưng không còn quần quật sáng tối như thuở trước. Và ánh nhìn của
bà luôn lấp lánh niềm vui.
Tôi ngồi bên bà chỗ ngấn nước, nơi con dốc mé sông trong buổi chiều
tà, thấy lấp loáng, lung linh hình sáu mái ngói mới in nơi đáy nước. Tôi đỡ đôi
bàn tay chai sạn mấy chục năm quen cuốc đất, lật cỏ của bà. Những ngón tay dài,
nhăn nheo và khúc khuỷu nhưng vẫn cứng cáp lạ thường, đúng như khí chất của bà.
Con biết không, bà Ba suýt đánh mất quyền lợi của các con bởi tính khăng khăng cố
chấp và thiếu hiểu biết pháp luật của mình. Bà bắt các con sống chùm dúm trong
một hộ, cứ nghĩ vậy mới là quây quần, gắn bó. Không chia đất, không tách thửa,
nếu chẳng may đất nhà bà thuộc diện thu hồi hết thì tất cả mẹ con chỉ được một
lô đất tái định cư. Pháp luật không có ngoại lệ. Nếu điều đó xảy ra, bà sẽ đau
đớn và ân hận biết chừng nào. Rất may, bà đã kịp nhận ra sai lầm; rất may đất
không thuộc diện giải tỏa trắng, nếu không bà đã hại các con, các cháu của mình
rồi! Nhưng sau việc này, bà càng hiểu hơn đức tính ngoan ngoãn, hiếu thảo của
các con mình… Bởi vậy, bà Ba là người hạnh phúc, phải không con?
Truyện ngắn của TRÂM OANH
(Giải Khuyến khích cuộc thi Truyện ngắn Đông Nam bộ lần thứ II, năm 2022)
(Nguồn: VNĐN số 58 – tháng 12 năm 2022)