CHÀO MỪNG 90 NĂM THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (3/2/1930 - 3/2/2020); MỪNG XUÂN CANH TÝ 2020
ĐẠI TÁ - ANH HÙNG LLVT LÊ BÁ ƯỚC: MỘT TRÁI TIM NGƯỜI LÍNH

​ĐẠI TÁ - ANH HÙNG LLVT LÊ BÁ ƯỚC

MỘT TRÁI TIM NGƯỜI LÍNH


     Đại tá, Anh hùng LLVT Lê Bá Ước vừa giã từ đất mẹ, trở về với Rừng Sác và đồng đội thân thương vào lúc 13h50’ chiều 18/10/2016 tại nhà riêng (Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai). Ông nguyên là Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 10 của Đặc công rừng Sác, với chiến công gần hàng trăm trận đánh đặc công thủy; nhưng khi ra đi ở tuổi 86, ông để lại cho đời nhiều trang viết đau đáu nỗi niềm riêng – chung…

     Đại tá Lê Bá Ước (còn gọi là Bảy Ước) sinh năm 1931 tại Rạch Giá, Kiên Giang, là con thứ bảy trong gia đình, thuở nhỏ tham gia đội Thiếu niên tiền phong trong làng. Ông tận mắt chứng kiến cảnh quê hương bị lính Tây bắn phá, ruồng bố, cha bị bắt bớ, hành hạ, chị gái làm cán bộ giao liên phải cắn lưỡi tự vẫn… Tự sắm cho mình cái khăn rằn và chiếc nóp, ông đi thẳng vào chiến khu rừng U Minh, sau đó tập kết ra Bắc, được học trường Sĩ quan Lục quân và trở về chiến trường miền Nam. Năm 1965, ông đưa vợ và 2 con nhỏ tập kết ra Bắc; mang theo lời hẹn ước của người vợ trẻ…

     Câu chuyện tình yêu – gia đình của đại tá Lê Bá Ước bắt đầu như bao gia đình thời chiến khác, nhưng cùng với lịch sử, mỗi con người đều mang trên mình sứ mệnh và tầm vóc của thời đại. Bà Nguyễn Thị Kim Mến đã trả lại quyết định gọi vào học vào Đại học Y khoa Hà Nội, vượt Trường Sơn vào rừng Sác làm quân y của Trung đoàn 10, nơi ông Bảy đang chiến đấu. Sinh đứa con thứ ba ngay trên chiến trường đầy khói lửa, hai ông bà đành đem gửi đứa con mới 15 ngày tuổi ra ấp chiến lược, và không đầy 3 tháng sau bà Kim Mến hy sinh trong một trận không kích.

     Đại tá Lê Bá Ước ghi lại sự chia biệt đau thương ấy:

“Thấp thoáng ảo mờ đôi mắt ấy

Môi cười hòa lẫn tóc đen dài

Phải chăng người ấy – Em yêu dấu

Sóng nước vỡ tan bóng nhạt phai”

     Chiến tranh cũng mang đến những nỗi đau khôn nguôi cho bà Thân Tuyết Vân, người vợ sau của đại tá Lê Bá Ước. Bà là vợ của liệt sĩ Phan Kế Tiếp, Đại đội trưởng Đại đội 12 thuộc Trung đoàn 10, trong lúc bà trở dạ sinh đứa con thứ ba tại trạm xá quân y thì ông Tiếp hy sinh… Từ trong những mất mát, đau thương ấy, cuộc sống được tiếp nối bằng sự cảm thông, chia sẻ và thấu hiểu. Vì vậy mà 2 năm sau, bà Thân Tuyết Vân và ông Lê Bá Ước gá nghĩa với nhau, cùng nhau chăm sóc 9 người con. Đối với bà Kim Mến và ông Phan Kế Tiếp, đó không chỉ là tình nghĩa gia đình, mà còn là tình đồng đội, nghĩa non sông. Họ chỉ là hai trong số hơn 860 người lính đặc công thủy đã anh dũng hy sinh trong suốt 10 năm bám trụ tại căn cứ rừng Sác (từ năm 1965 đến 1975). Điều đó đã thúc đẩy ông Bảy Ước phải cầm bút để nói lên tấc lòng mình:

“Bâng khuâng tấc dạ niềm thương nhớ

Lộng gió trên sông đẹp  bóng cờ

Mãi mãi hiên ngang rừng Sác đứng

Mỗi người ngã xuống một bài thơ”

daitaLebauocnhanphanthuongcaoquy.jpg


***


     Chiến khu rừng Sác nằm ở một vị trí chiến lược, bàn đạp hiểm yếu tiến công vào lực lượng đầu não Mỹ - ngụy phía Đông Nam Sài gòn, được Thiếu tướng Lương Văn Nho gọi là “cửa ngõ đại dương đặc biệt”, đòi hỏi bức thiết những điều kiện đảm bảo cho việc phòng thủ của Mỹ - ngụy. Song ta đã xây dựng cứ địa ngay tại đây, thách thức mọi phương tiện và chiến thuật của chúng. Ngày 15/4/1966, Trung đoàn 10 đặc công Rừng Sác chính thức ra đời. Quân địch tuyên bố sẽ nhanh chóng san bằng rừng Sác bằng “mưa bom bão đạn”, song đã có những con tàu hàng chục ngàn tấn đi vào khu vực này, mà không thể đi ra. Sau trận Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968, địch bao vây, đánh phá ác liệt Rừng Sác vào những năm 1969 - 1970 - 1971. Có những lúc Trung đoàn mất liên lạc hoàn toàn với Bộ chỉ huy, chỉ khi nghe báo, đài (ngụy) đưa tin đặc công rừng Sác vừa đánh xong một trận, Đại đội 5 mới tin rằng Trung đoàn 10 vẫn còn trụ vững. Thiếu tá Lê Bá Ước là Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy Trung đoàn 10 đặc công, được đồng đội suy tôn là “Anh cả Rừng Sác”; còn Mỹ - ngụy thì treo giá 2 triệu đồng cho ai bắt sống hoặc lấy được đầu ông…

     Ông tham gia chỉ huy đánh thắng nhiều trận vang dội như đánh kho bom Thành Tuy Hạ, đốt cháy kho xăng Nhà Bè, pháo kích 70 trận vào Dinh Độc lập, Tòa Đại sứ Mỹ, Bộ Tư lệnh Hải quân ngụy quyền.... Tính từ năm 1966 - 1973, Trung đoàn 10 đặc công Rừng Sác đã tổ chức đánh 740 trận lớn nhỏ, tiêu diệt 6.200 tên địch. Đánh cháy và chìm 356 tàu, thuyền chiến đấu; đánh chìm tại các bến cảng 145 tàu vận tải quân sự và bắn cháy, chìm trên sông Lòng Tàu hơn 100 chiếc vận tải quân sự khác và bắn rơi 23 máy bay lên thẳng. Với những chiến công vang dội đó, Trung đoàn 10 đặc công Rừng Sác đã được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang ngày 23/9/1973.

     Đầu năm 1974, Lê Bá Ước được thăng quân hàm Trung tá, là Chính ủy Sư đoàn 2 đặc công. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Sư đoàn 2 đặc công đã xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ đánh chiếm giữ những đầu cầu trọng yếu và mở cửa cho 5 Quân đoàn chủ lực tiến vào giải phóng Sài Gòn.

     Năm 1978, Lê Bá Ước chỉ huy đơn vị bộ đội địa phương tham gia chiến đấu đánh Pôn Pốt bảo vệ nhân dân ở tuyến biên giới Lộc Ninh - Bù Đốp… Hoàn thành nhiệm vụ trở về, Đại tá Lê Bá Ước tham gia lãnh đạo, chỉ huy lực lượng vũ trang Đồng Nai và nhiều công tác ở địa phương. Ông kể đã từng cùng một chiến hào với Thủ tướng Campuchia Hunsen, bảo vệ cho đồng chí bạn được bảo toàn cho đến ngày Campuchia thoát nạn diệt chủng. Trở về Đồng Nai, đại tá Lê Bá Ước tham gia nhiều công tác chính trị, quân sự.  Ông nguyên là Tỉnh ủy viên; Đại biểu HĐND tỉnh Đồng Nai các khóa III, IV; nguyên Chỉ huy phó Chính trị Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đồng Nai. Ông đã được tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý của Đảng, Nhà nước: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; Huân chương Quân công hạng II; Huân chương chiến thắng hạng III; Huân chương kháng chiến hạng Nhất; Huân chương chiến công hạng III; Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba; Huy chương Chiến sĩ vẻ vang Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Quân kỳ Quyết thắng; Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng…

     Nhưng hơn ai hết, chính ông là người thấu hiểu rõ nhất về của đồng đội mình trên chiến trường rừng Sác. Những người làm nên huyền thoại, những chiến công hiển hách ấy, theo lời ông Bảy, họ “phần lớn xuất thân từ những vùng quê nghèo miền Bắc hoặc vùng sông nước miền Tây Nam bộ, gia đình nông dân, làm sao có nổi tấm ảnh chụp mà gửi lại cho bố mẹ, vợ con? Rồi anh em chiến đấu và hy sinh ở đây… Tội lắm, cứ trùng trục ở trần lội nước trước giờ đi đánh tàu, đi đánh căn cứ địch như vậy mà bước lên ngồi trên bàn thờ…”  Khi xung trận, họ chỉ có chiếc mũ cao su trên đầu nối với “thiết bị lặn” tự chế, chẳng có áo bơi, máy thở hay bất cứ phương tiện hỗ trợ nào. Rồi còn nạn sấu dữ, cọp beo, dịch bệnh và trăm ngàn mối hiểm nguy thường trực… Họ cứ thế ra đi, khi tuổi xuân còn phơi phới, như liệt sĩ Nguyễn Công Bao, liệt sĩ Phạm Văn Tiềm (hy sinh năm 1973, đến năm 1999 mới tìm được hài cốt). Người chỉ huy trưởng Lê Bá Ước vì thế không một ngày nào không ghi nhớ, tìm kiếm họ, với tâm nguyện đưa được họ trở về với gia đình, vợ con, làm được việc gì đó ghi nhớ về họ, để những người liệt sĩ rừng Sác không phải chịu đơn côi, lạnh lẽo. Và một trong những điều giúp ông thực hiện mong ước này chính là văn chương.

daitaLebauocvatuongdaidaccongrungSac.jpg 
 
 

***


     Cơ duyên lớn nhất đưa ông Bảy rừng Sác – đại tá Lê Bá Ước - đến với văn chương có lẽ cũng là từ những người lính. Đầu thập kỷ 90, đại tá Lê Bá Ước, Chỉ huy phó Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đồng Nai về hưu. Ông đã gặp nhà văn Hoàng Văn Bổn và nhà văn Nguyễn Đức Thọ, vốn là hai nhà văn xuất thân từ quân đội và đặc biệt là  sống chết với văn chương, với quê hương Đồng Nai “nhau rún” (khi đó hai người là Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội VHNT Đồng Nai). Nhà văn Hoàng Văn Bổn đã khích lệ đại tá Lê Bá Ước viết lại những câu chuyện của những người lính rừng Sác, nhà văn Nguyễn Đức Thọ hỗ trợ nhiệt tình giúp tác giả hoàn chỉnh bản thảo. Và bộ sách “Một thời rừng Sác” (2 tập) ra đời, qua đó đời sống và những chiến công của người lính rừng Sác mới thực sự được nhiều người biết đến. Những gian khổ, hy sinh, những khoảng lặng âm thầm trong tâm hồn, trái tim người lính đến lúc ấy mới thực sự được bật lên thành tiếng; vì hơn 10 năm bám trụ trên một vùng sông nước ngay bên cạnh những chiến hạm của quân thù, họ phải tuyệt đối im lặng, giấu hình giấu tiếng. Những chiến công, những hành động anh hùng thể hiện bằng tài liệu, con số nay mới được kể bằng giọng hồi ký ngắn gọn, rõ ràng, trong đó, Lê Bảy chính là hiện thân của đại tá Lê Bá Ước bộc lộ con người thật của mình bộc trực, khí khái nhưng cũng hết sức khiêm nhường, tình cảm.

     “Một thời rừng Sác” cũng là một hiện tượng văn học, không chỉ ở Đồng Nai mà còn là trong cả nước. Cho đến nay, bộ sách được tái bản qua 5 lần, chưa kể những đợt in nối bản. Tác giả không ngừng bổ sung nội dung sách, bởi qua mỗi năm, danh sách những liệt sĩ hy sinh tại rừng Sác được tìm thấy nối dài ra, ông Bảy lại đưa thêm tên đồng đội lên bàn thờ tại tư gia, và ghi vào sách cùng với những câu chuyện, những ước mơ chưa thành của họ. Bộ sách được sử dụng như tư liệu quý để viết sử, dựng phim, tìm đồng đội, người thân… Ngoài viết sách, đại tá Lê Bá Ước còn là đồng tác giả của tượng đài “Đặc công rừng Sác” (cùng họa sĩ Trần Thanh Thanh và Đồng Sỹ Nguyên, được đặt tại Khu Di tích căn cứ rừng Sác - xã Phước An, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai). Người Đồng Nai đã quen với hình ảnh người đại tá đầu bạc, người thật gầy, lưng thật thẳng luôn kể chuyện về đồng đội, luôn có những chuyến đi tìm kiếm đồng đội đã hy sinh. Ông đi mọi chốn, gõ mọi cửa để quy tập anh em về một nơi, kêu gọi mọi sự giúp đỡ để xây dựng đền thờ Liệt sĩ rừng Sác (khánh thành năm 2011 tại huyện Cần Giờ, TP. HCM)

     Năm 2013, đại tá Lê Bá Ước được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Việt Nam. Đồng đội, gia đình, bạn văn chương… hoan hỉ chúc mừng ông với danh hiệu hoàn toàn xứng đáng với những gì ông đã và đang làm. Tuy nhiên, ở tuổi 83, ông thanh thản cho rằng mình đang phải chuẩn bị cho một hành trình mới. Chính ông đọc lại mấy lời “di chúc” bằng thơ thể hiện nỗi ước mong đoàn tụ với những người chiến sĩ rừng Sác đã hy sinh:

“Chen lấn làm gì chốn nghĩa trang

Trở về rừng Sác sống thênh thang

Tro tàn hòa máu bao đồng đội

Sừng sững hiên ngang đước bạt ngàn”

                           (ghi âm ngày 9/10/2014)

daitaLebauocvadaituongVonguyengiap.jpg 
 
 

     Thơ đối với đại tá Lê Bá Ước cũng là “tiếng lòng” khôn nguôi của ông, ở đó ông nói lên cảm xúc, ước mong của mình chứ không dụng công trau chuốt. Đầu năm 2016, ông tập hợp và in lại tập thơ "Trái tim người lính" với 90 bài thơ, tất cả là được viết từ bàn tay "chai tay súng", vắt kiệt bao thương nhớ thành thơ. Điều đáng trân trọng là tập thơ có khá nhiều bài thơ viết về mùa xuân, trải qua rất nhiều thời kỳ trong cuộc đời người lính trường chinh:

Mai vàng nở rộ đón xuân sang

Cờ đỏ tung bay rộn xóm làng

Bạc trắng mái đầu người lính chiến

Mùa xuân lửa đạn đã sang trang

(Xuân 1977)

     Bài thơ gợi nhớ đến câu thơ của vua Trần Nhân Tông thế kỷ XIII: "Người lính già đầu bạc, kể mãi chuyện Nguyên Phong". Song câu chuyện trường chinh chỉ là một nửa tứ thơ xuân của người lính thời đại Hồ Chí Minh. Vì đó là cả một "mùa xuân đầu tiên" mà mọi người dân nước Việt cùng ao ước, chờ đợi. Mùa xuân ấy không đơn thuần là xuân của đất trời, mà là xuân của lòng người, của người lính đầu bạc nhưng trái tim vẫn tươi thắm, vẹn nguyên.

     Mùa xuân trong thơ của đại tá Lê Bá Ước mang bóng dáng của lý tưởng, của những khởi đầu kỳ vĩ là vậy, song cũng là một sự lắng đọng quý giá mang giá trị của tình yêu và lẽ sống. Bài thơ "Đầu xuân khai bút" khắc hoạ một sức sống thanh xuân qua cái nhìn rất lãng mạn, đáng yêu:

Hoa tím ô rô đẹp quá chừng

Tình yêu đôi lứa giữa mùa xuân

Em ơi thương nhé, đừng gai góc

Như lá ô rô bát ngát rừng...

Và những vần thơ xuân tôi ánh thép:

Năm nay Tết đến chẳng thấy say

Vì rằng rượu ít lấy chi say

Nhưng là người lính say chinh chiến

Dậy sóng Trường Sa lại phải say

(Say Tết, 2013)

     Người lính già đã dừng bước trên con đường trường chinh nhiều chông gai, gian khổ nhưng luôn tươi thắm lý tưởng, nghĩa tình. Sau khi ông mất, theo nguyện vọng của ông, gia đình đã hỏa táng và đưa một phần tro cốt về sông Lòng Tàu, cho ông thỏa lòng gặp lại anh em, đồng đội. Di nguyện cuối cùng không khắc vào đá, mà gửi vào thơ, như một cứu cánh tinh thần và vĩnh cửu, mặc dù người anh hùng đầu bạc ấy, đồng thời là một hội viên của Hội VHNT Đồng Nai, chưa bao giờ nhận mình là một nhà thơ:

“Xin về cư trú chốn đền thờ

Liệt sĩ Đoàn 10 vẫn đợi chờ

Nhân chứng anh hùng trong lịch sử

Cùng nhau nhang khói tỏa hồn thơ…”

     Những gì đại tá – anh hùng LLVT Lê Bá Ước viết ra đúng với câu “Văn là Người”, nghĩ sao thì ông nói vậy, dù không chủ tâm, song ông đã tự mình viết nên được một tượng đài người lính rừng Sác, trong đó có ông, một người anh hùng mang đậm chất Nam bộ.


TRẦN THU HẰNG