CHÀO MỪNG 90 NĂM THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (3/2/1930 - 3/2/2020); MỪNG XUÂN CANH TÝ 2020
TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO TRUNG HOA QUA LỄ HỘI DÂN GIAN


Nguyễn Thị Nguyệt

(Nguồn: Sách Mùa xuân đầu tiên - Nxb. Đồng Nai 2017)

 

Lễ hội dân gian mang tính chất của một xã hội nông nghiệp nhưng có ảnh hưởng Phật giáo, Đạo giáo. Cộng đồng người Hoa tổ chức lễ hội dân gian (cầu an, cầu siêu) để cầu xin thần, Phật, Tổ nghề ban sự an lạc, thịnh vượng cho họ. Người thợ đá tổ chức cúng Tổ nghề vừa để tôn vinh Tổ Sư, tôn vinh nghề nghiệp và cầu bình an cho cộng đồng, cho xã hội. Những người Hoa buôn bán và làm nông nghiệp tôn vinh Quan thánh Đế quân vì tính chất nghĩa khí, trọng chữ tín và là vị thần linh bảo hộ sự bình yên, có thể đem lại cuộc sống ấm no. Lễ làm chay chùa Bà Bửu Long là lễ tôn vinh Tổ nghề đá, tương tự như lễ hội cúng ông Bổn của thợ lò chén người Hoa ở tỉnh Bình Dương. Nhìn chung, những lễ hội này mang nhiều giá trị tích cực trong đời sống cộng đồng. “Đặc sắc văn hóa của lễ hội truyền thống người Hoa góp vào cộng đồng là sự tạo ra hưng phấn tinh thần trong ngày lễ, giúp cho con người hòa nhập, thư thái hơn. Mặt khác tập tục sinh hoạt, các hình ảnh múa, các trò diễn… tạo ra không khí vui tươi sinh động, giải trí bổ ích”. (1)

 Trong lễ cầu siêu bao giờ cũng có nghi thức cầu cho ông bà tổ tiên, cửu huyền thất tổ, bắt nguồn từ niềm xác tín rằng “linh hồn của các tổ tiên đã khuất vẫn tiếp tục tồn tại và các quan hệ thân tộc vẫn còn nguyên sức mạnh,… Cái chết và sự sống phụ thuộc lẫn nhau, người sống lo thờ phụng và chăm sóc mộ phần, vong linh tiên tổ thì tác phúc cho con cháu”. (2)

Xét về mặt chức năng, lễ hội dân gian (hay nghi lễ) là sự gắn liền với khát vọng của con người muốn chiến thắng sự sợ hãi trước các hiện tượng mà con người chưa hiểu được, không hiểu được về thế giới xung quanh, thế giới tinh thần. Do vậy, con người cần tới các lực lượng thần linh, hay các lực lượng siêu nhiên để trấn an bản thân họ (theo trường phái chức năng về tâm lý của Malinovski). Đây là sản phẩm của nghi lễ thế tục mang sắc thái tôn giáo, tín ngưỡng ở xã hội cổ truyền nhằm đem lại sự yên ổn cho người sống và siêu thoát cô hồn cô đơn, vất vưởng trong thế giới vô hình.

Những lễ hội này, vừa thể hiện bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng, vừa thể hiện uy tín và tính dân tộc của người Hoa. Thông qua những lễ hội này, chúng ta có thể hiểu được tâm lý, tình cảm của họ. Nếu tham dự những nghi thức trong lễ hội cầu an, cầu siêu của người Hoa ở Đồng Nai thì chúng ta sẽ thấy rất thú vị. Có thể ai đó không hiểu văn hóa của cư dân Nam bộ trong đó có lễ hội cầu an cầu siêu của người Hoa ở Đồng Nai "sẽ cho rằng các nghi thức diễn ra trong cuộc lễ là "mê tín dị đoan", là hủ tục, là tầm thường cần dẹp bỏ. Nhưng nếu hiểu được ý nghĩa của những nghi lễ diễn ra trong lễ hội này thì mới thực sự đồng cảm với cộng đồng cư dân ở đây". (3)

Đứng về mặt khoa học, chúng ta cần phải có thái độ trân trọng các biểu hiện văn hóa của các dân tộc như X.A.Tokarev nhà bác học Nga, đã từng khẳng định: “Sự trân trọng đối với văn hóa của mỗi cư dân,… thái độ quan tâm và thận trọng đối với các cư dân- người sáng tạo ra nền văn hóa… đều là những ý tưởng khoa học lành mạnh, xứng đáng được quan tâm nghiêm túc nhất”. (4)

Người Hoa vốn có tinh thần hòa hảo với các tín ngưỡng tôn giáo. Họ ảnh hưởng Tam giáo (Khổng, Phật, Đạo) và vẫn còn tồn tại tín ngưỡng vạn vật hữu linh, đặc biệt thờ cả thần núi và thần sông. Khổng, Phật và Đạo giáo cùng có vị trí như nhau trong thế giới tâm linh của người Hoa. Người Hoa quan niệm: cứ tôn trọng tất cả các tôn giáo, cúng dường cho thật nhiều để khi chết, các tu sĩ tụng kinh siêu độ cho. Hoặc khi làm ăn khấm khá thì họ năng đến chùa và cúng vái tổ tiên tạ ơn vì đã đem lại may mắn cho họ.

Xuất phát từ đặc điểm trên mà những lễ hội dân gian của người Hoa thường có sự kết hợp bởi nhiều yếu tố tín ngưỡng tôn giáo. Nghi lễ cầu an, cầu siêu là một sinh hoạt tôn giáo đặc trưng trong đời sống tinh thần của người Hoa ở Đồng Nai, nó có vị trí quan trọng và thực sự hiện hữu vì gắn với tâm linh của cộng đồng. Cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai đã thể hiện những yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống tộc người của mình qua lễ hội trai đàn cầu an, cầu siêu.

1. Yếu tố tín ngưỡng dân gian trong lễ hội

Tín ngưỡng người Hoa ở Đồng Nai rất đa dạng, phong phú, trong đó có thờ nhân thần đã trở thành phúc thần như: Thiên Hậu thánh mẫu, Quan thánh Đế quân, Tổ nghề… vốn là những người được cộng đồng tôn thờ và dần được dân gian thần thánh hóa, những nhân vật tôn thờ gần gũi với tâm lý, tình cảm của người dân có ý nghĩa quan trọng trong sinh hoạt cộng đồng cư dân, đặc biệt là sinh hoạt văn hóa tinh thần (hoạt động lễ hội) với nhiều nghi lễ nhằm cầu cuộc sống được bình an và cầu siêu cho vong linh người chết. Các tín ngưỡng dân gian này có tác dụng tạo cho tộc người, cho người dân thêm niềm tin vào cuộc sống. Theo Mikhail Bakhtin, nhà nghiên cứu văn hóa người Nga cho rằng “lễ hội không chỉ xuất phát thuần túy từ quá trình lao động, từ những phương tiện vật chất, mà trước hết từ mục tiêu cao nhất của sự tồn tại nhân sinh tức là từ thế giới tinh thần, tư tưởng, từ lý tưởng sống”(5). Các đối tượng tín ngưỡng dân gian là những thần thánh mà người Hoa tin tưởng có phép hóa độ, đem lại niềm an vui cho làng xã, cho cộng đồng cư dân, cho cả người quá vãng. Do đó, trong nghi lễ, bao giờ cũng có nghi thức tôn vinh đối tượng thờ như nghinh, thỉnh, rước, đón… được tổ chức quy mô, long trọng và được thực hiện với một niềm tôn kính đặc biệt và ngưỡng vọng sâu sắc.

Thiên Hậu cổ miếu vốn là miếu Tổ Sư thờ Tổ Nghề thủ công, do đó trong lễ làm chay đều có yếu tố thờ Tổ nghề. Ngoài các vật trang trí ở tiền điện miếu và Mễ Đẩu còn có một cái sàng, cây thước mộc, cây kéo, 5 tép chỉ ngũ sắc… là những lễ vật mà có người cho là biểu hiện của dụng cụ làm nghề thủ công (tiêu biểu cho Tổ nghề).

Như trên đã nêu, việc thờ Thiên Hậu Thánh mẫu trong miếu Tổ Sư là lớp tín ngưỡng mới du nhập sau, nhưng Thiên Hậu lại có vị trí quan trọng trong tâm thức của người Hoa. Thiên Hậu là nhân thần phù hộ người đi biển vì vậy trong lễ chay thường có tục bắc cầu thỉnh Mễ Đẩu cầu phước cũng có ý nghĩa rước Bà Thiên Hậu từ ngoài biển vào.

Trong lễ cúng Quan Đế người ta thường kiêng cữ cúng gà trống, chỉ cúng gà mái, có miếu tuyệt đối không cúng gà (miếu Quan Đế- cù lao Phố), vì tương truyền gà trống là con vật cứu mạng Quan Thánh Đế Quân khi ông bị kẻ thù truy đuổi.

Chiếc thuyền chở bài vị trong lễ cầu siêu để hỏa kết cũng nhằm tái hiện quá khứ di dân của người Hoa từ Trung Quốc đến Việt Nam bằng đường biển. Vì vậy, cộng đồng đã dùng con thuyền với ý nghĩa chở bài vị vong hồn tới đất Phật. Nghi thức này còn có ý nghĩa khác là tống tiễn những điều xui xẻo, điều xấu trôi ra sông, biển.

Trong lễ làm chay và lễ Quan Đế, những đạo sĩ Đạo giáo thường dùng hai hột keo có hai mặt xấp ngửa biểu tượng cho âm dương làm chuẩn để chọn giờ, tiến hành lễ cúng.

Trong các lễ hội như lễ hội làm chay thực hiện nghi thức khai quang điểm nhãn, khai bảng và xô giàn, người Hoa luôn dùng lá bưởi có mùi thơm tượng trưng cho sự tinh khiết để tẩy uế, trừ tà trước khi cử hành các nghi lễ.

Về những con số được dùng trong lễ hội của người Hoa như: số 3, số 6, số 9, số 12, số 18, số 24, 36 hay 72… Đây là bội số của số 3, 6 và số 9 nên được đa số người Hoa ưa dùng vì cho là những con số may mắn.

2. Yếu tố tôn giáo trong lễ hội

* Ảnh hưởng Nho giáo

Nho giáo (hay Khổng giáo) là một giáo lý đạo đức cơ bản xuất xứ ở Trung Quốc vào khoảng thế kỷ VI - V (TCN). Nho giáo trở thành hệ thống tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất ở Trung Quốc, cùng tồn tại với Đạo giáo và Phật giáo trong nhiều thế kỷ.

Nho giáo trọng đạo đức, lễ nghĩa, thờ kính tổ tiên. Vì vậy, những nghi lễ được tổ chức cũng không nằm ngoài đạo thờ tổ tiên, cầu an cho người sống và cầu siêu cho tổ tiên, vong hồn cô đơn lạc lõng…

- Lễ hội trai đàn cầu an, cầu siêu tổ chức tại các cơ sở tín ngưỡng, các nghĩa từ là hình thức tưởng nhớ công đức của nhân thần, của trời đất và của Tổ Tiên, là sự nối kết giữa người sống và người chết biểu hiện qua nghi lễ của Nho giáo.

- Lễ cầu siêu là hình thức của việc thực hiện nghi lễ thờ cúng tổ tiên, những người đã khuất. Nho giáo xưa nay vẫn rất coi trọng nghi thức và nghi lễ. Thông qua nghi thức lễ mà người ta duy trì được các quan hệ giữa cha mẹ và con cái, giữa tổ tiên và hậu duệ, giữa bạn bè với nhau. Nghi thức quan trọng nhất là cái lễ gắn bó gia đình, dòng họ trong một nề nếp, đó là đạo hiếu tạo nên mối quan hệ ảnh hưởng qua lại, phụ thuộc lẫn nhau giữa thế hệ già và trẻ, giữa sự sống và cái chết (qua lễ cầu siêu ở các nghĩa từ; thỉnh Mễ Đẩu - long đình bản mạng trăm họ ở lễ Chay).

- Cùng với sự thờ cúng tổ tiên, người Hoa còn kết hợp dâng cúng cho các vị thần và cho những cô hồn lang thang (qua lễ thức trai đàn cầu siêu và cúng thí).

- Đồ cúng cho tổ tiên và các thần thường là đồ mặn, nhang đèn, giấy tiền vàng mã.

- Vượt khỏi phạm vi gia đình, phép tắc về lễ của Nho giáo lan tỏa khắp trong đời sống cộng đồng và quốc gia. Ở vung đất mới, người Hoa biết gắn kết chữ “Lễ” trong cộng đồng, trong gia đình trở thành lễ hội cầu an, cầu siêu rất long trọng cầu mong cho đời sống trong vùng được no ấm, bình yên, hoặc cho quốc gia thái bình thịnh trị.

* Ảnh hưởng Phật giáo

Đạo Phật có nguồn gốc từ Ấn Độ, hình thành vào khoảng thế kỷ V (TCN). Thế kỷ I (SCN) được coi là thời gian Phật giáo truyền bá đến Trung Quốc vào [131, tr.88]. Phật giáo phát triển mạnh ở Trung Quốc sau đó lan ra một số nước vùng Đông Á. Đến đời Tùy và Đường là thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo ở Trung Quốc. Phật giáo có ảnh hưởng sâu đậm trong đời sống xã hội và văn hóa Trung Quốc, đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa tinh thần, cụ thể trong việc thờ cúng và các nghi lễ tôn giáo tồn tại từ trước cho đến nay. Những biểu hiện có ảnh hưởng của Phật giáo trong lễ hội người Hoa như sau:

- Trang trí lễ cầu siêu hoàn toàn giống như một “Phật điện” ở nghĩa từ Phước Kiến Hóa An, Biên Hòa với tranh liễn cờ trướng có hình ảnh của Tam thế Phật và Quán Thế Âm Bồ tát. Trên bàn thờ cao nhất là bộ tượng Địa Tạng vương Bồ tát và Quan Âm bồ tát. Hoặc treo “tràng phan” là cờ Phật giáo trong lễ cầu siêu của người Hoa Phước Kiến Bửu Long, cũng như việc trang trí ảnh Địa Tạng dẫn vong trên bàn thờ khai lễ chiêu tập vong linh về nghe kinh Phật cầu siêu.

- Lễ cúng cầu siêu cho cô hồn, phóng sanh, cúng thí là những hình thức nghi lễ có ảnh hưởng của lễ thức Phật giáo, do vậy phần lễ thức cầu siêu đều gần gũi với đạo Phật như: nghi lễ, vật cúng, bàn tay Phật, trang phục Địa Tạng, vần kinh tụng, múa nghi thức bất ấn trừ tà siêu độ âm hồn… thể hiện trong hầu hết các nghi lễ có tính chất cầu siêu của người Hoa ở Đồng Nai.

- Toàn bộ lễ cầu siêu có quy mô lớn ở các nghĩa từ trong tháng bảy âm lịch đều do các chư tăng Phật giáo người Hoa hoặc người Việt thực hiện. Các kinh Phật sử dụng trong lễ cầu siêu như: Quan Âm, Địa tạng, Kim cang, Phổ môn, Sám đại bi, Liên hoa kinh, Kinh báo ân… đều là những kinh phổ biến của Phật giáo.

- Lễ phục của vị đạo sĩ chánh tế như một pháp sư trong nghi thức đi phóng đăng, phóng sanh (trong lễ làm chay) và xô giàn (trong lễ làm chay, lễ cầu siêu giống trang phục của Địa Tạng vương bồ tát (một Bồ tát trong Phật giáo).

- Trong hình thức cúng thí, xô giàn kết thúc lễ thường thể hiện sắc thái Phật giáo: hình tượng Tiêu Diện đại sĩ bằng giấy hóa thân của Quán Thế Âm Bồ tát, có khả năng cứu vớt vong linh ở chốn âm cung theo ý nghĩa đạo Phật, luôn luôn được chuẩn bị dành cho nghi thức phóng hỏa. Ngoài ra còn có các biểu tượng bàn tay Phật, tháp bánh hình tháp Phật (stupa), hình tượng hoa sen, chữ vạn. Đặc biệt, trong lễ cầu siêu bao giờ cũng có bức ảnh hoặc tượng Địa Tạng vương Bồ tát có chức năng chiêu tập vong linh về nghe kinh Phật; còn có thuyền chở bài vị cầu siêu bên trong có hình nhân Địa Tạng và Quan Âm chở linh hồn về nơi đất Phật… Có thể nói, việc đốt giấy tiền vàng mã tuy xuất phát từ Bàlamôn giáo (đốt cho thần lửa Agni chứng giám) nhưng lại được tín đồ đạo Phật tiếp nhận trở thành phổ biến trong lễ cúng Phật giáo, hoặc cúng thí cho cô hồn cũng ảnh hưởng từ lễ thức Phật giáo…

- Trong nghi thức cúng tế cầu an, cầu siêu đều có mâm cúng thí thực cho các vong hồn không có thân nhân, người ta cũng chẩn tế bố thí cho người nghèo… Những điều trên biểu hiện cho triết lý nhân sinh của đạo Phật, được người Hoa đưa vào trong lễ hội hiện nay.

* Ảnh hưởng Đạo giáo

Đạo giáo là một tôn giáo bản địa Trung Hoa, có lịch sử 1.700 năm. Các vị thần linh thiêng nhất là Tam Thanh là những vị thần chính của Đạo giáo cai trị mọi thiên thần và tạo ra mọi vật trong vũ trụ. Nếu một người đạt tới sự hợp nhất với Đạo thì người đó sẽ là người đức hạnh. Đạo dạy các môn đồ về Đạo, trau dồi đạo đức và tin rằng thực hành đạo cuối cùng có thể giải phóng con người khỏi mọi đau khổ trần thế.

Trong lễ hội cầu an, cầu siêu của người Hoa ở Đồng Nai, đạo sĩ sử dụng rất nhiều bài kinh của Đạo giáo. Các bài kinh của Đạo giáo nhằm "cầu phúc, cầu tránh tai họa hoặc chấm dứt đau khổ, sám hối, cầu sống bình an, xá tội cho người chết”.(6)

Việc sử dụng âm nhạc trong các nghi lễ Đạo giáo được cho là có chức năng "làm động lòng thần thánh". Có nhiều dạng đơn ca, hợp xướng, thánh ca, nhạc trống và các dàn nhạc cụ gồm bộ gió, gẩy dây và gõ. Các nhà nghiên cứu đánh giá "Âm nhạc Đạo giáo đã đạt trình độ rất cao sau hơn 1000 năm phát triển lễ nghi Đạo giáo và hấp thu tinh hoa âm nhạc dân gian suốt một thời kỳ dài".(7)

- Lễ cầu an, cầu siêu của người Hoa ở Đồng Nai phần nhiều mang tính Đạo giáo (lễ Quan Đế, lễ làm Chay, lễ cầu siêu). Nguồn gốc lễ cầu siêu xuất phát từ tục tết Trung nguyên của Đạo giáo. Lễ nghi Đạo giáo là việc thực hiện sự triệu vời các vị Thái thượng thần của vũ trụ qua các đạo cụ, thần chú, bùa phép và các vũ điệu nghi lễ để trấn đuổi ma quỷ, trừ tà, trừ dịch bệnh và cầu xin được ân huệ từ các thần linh.

- Chủ trì trong lễ Quan Đế và lễ làm chay là những đạo sĩ Đạo giáo thực hiện các nghi thức từ khai lễ đến kết lễ. Trong lễ Quan Đế, phần nhiều do đạo sĩ Đạo giáo thực hiện (phần lễ), đại diện chư tăng Phật giáo chỉ thực hiện ở nghi thức khai quang điểm nhãn chuẩn bị cho phần hội đấu giá đèn lồng.

- Nơi làm trai đàn được trang trí như một điện thờ Tam Thanh của Đạo giáo, hình mẫu của cõi Tiên Thiên, trong đó có thần điện Tam Thanh. Việc bày bàn hương án Trương Thiên Sư trong miếu Thiên Hậu vào ngày đại lễ làm chay nhằm ý nghĩa tôn thờ người sáng lập Đạo giáo cũng như Tổ Sư của nghề bùa chú pháp thuật trong Đạo giáo. Trong lễ Quan Đế, các đạo sĩ cũng lập đàn thơ Tam thanh và Lữ Đồng Tân (là thần tiên, một trong hệ Bát tiên của Đạo giáo, có chức năng chuyển sớ lên Tam Thanh).

- Lễ vật cúng Tam vị (Tam Thanh) thể hiện dưới những vật cúng thanh khiết, những món chay như: hương hoa, trái cây, rượu, trà (khác với cúng thần là món mặn…).

- Các điệu múa hay động tác nghi lễ của các đạo sĩ trong lễ cúng cầu an, cầu siêu đa phần dựa vào quy luật của triết lý âm dương, ngũ hành, bát quái của Đạo giáo. Khi cúng lễ, "Đạo sĩ chủ tế đứng ở giữa, hai mặt đông tây có các đạo sinh đứng và luân phiên tụng niệm, tượng trưng cho sự luân phiên xen kẽ của âm và dương trong vũ trụ"(8). Các nghi lễ do đạo sĩ cử hành thường tỉ mỉ và phức tạp, khấn các linh thần về hội tụ, thanh tẩy vùng đất thiêng ngăn không cho khí âm xâm nhập (các nghi thức khai kinh cầu an, cầu siêu, ngọ môn đáp tướng trong lễ làm Chay và nghi thức hành hương 14 bàn thờ trong lễ Quan Đế).

- Biểu hiện của triết lý âm dương, ngũ hành: đa phần các lễ cầu an, cầu siêu đều mang biểu hiện của triết lý âm dương ngũ hành theo tính chất Đạo giáo. Tính âm dương được thể hiện qua hình thức và nội dung của lễ hội:

+ Tên gọi lễ cầu an, cầu siêu cũng là biểu hiện âm dương. Cầu an cho người sống (dương), cầu siêu cho người chết (âm).

+ Phần viết tên màu đỏ của người thân đăng ký cầu siêu cho người chết gọi là dương, còn người chết là âm.

+ Hình thức của lễ là gieo quẻ âm dương để chọn giờ tốt hành lễ. Trong lễ làm chay, lễ cầu siêu và lễ Quan Đế đều có nghi thức xin keo (gieo keo) với hai mặt sấp và ngửa tượng trưng âm dương để chọn giờ tốt hành lễ hoặc lấy ý kiến để quyết định sự việc trong nghi lễ.

+ Lễ vật bao gồm các món ăn cúng phóng đăng phóng sanh trong lễ làm Chay ở Bửu Long là 5 món chay (bún gạo, tàu hũ, củ cải muối, đậu que xào, đậu trắng) tượng trưng cho ngũ hành…

+ Các nghi thức phóng sinh chim và cá có ý nghĩa thả chim lên trời (dương), thả cá dưới nước (âm)…

- Trang phục của các đạo sĩ thường là áo choàng màu đỏ, vàng, xanh, tay thụng trang trí những hình tròn biểu tượng âm dương, thái cực kết bằng kim sa lấp lánh "tượng trưng cho sức mạnh quyền năng vũ trụ”(9). Đầu đội mũ đỉnh xếp bằng hình lục giác màu đen. Riêng đạo sĩ chủ tế trong lễ Chay "đội chiếc mũ miện có gắn hình ngọn lửa bằng vàng trên chóp mũ, cho thấy rằng ông ta được soi sáng bên trong bởi cái Đạo vĩnh hằng"(10).

- Kinh của Đạo giáo được sử dụng trong lễ thức cầu an, giải hạn cho cộng đồng trong các buổi kinh cầu an (lễ làm Chay) và nghi thức tấu Thiên long biểu (lễ Quan Đế).

- Nhạc khí: các chất liệu của nhạc khí (đồ gỗ, đồ đồng) sử dụng trong nghi lễ bao giờ cũng đáp ứng về tính chất tạo thanh âm và thanh dương. Các loại nhạc cụ người Hoa thường sử dụng trong lễ hội như: chuông, khánh, cổ cầm, đàn sến, đàn cò, đàn nguyệt, tiêu, sáo, mõ, bộ gõ, kèn, trống, phèn la, chập chõa…

Có thể thấy những yếu tố về tín ngưỡng, tôn giáo Trung Hoa ảnh hưởng rất sâu sắc trong hoạt động lễ hội dân gian của người Hoa ở Đồng Nai. Người Trung Hoa tin rằng cứ tôn sùng và thờ cúng nhiều thần thánh thì sẽ được họ phù hộ. Như vậy, tín ngưỡng tôn giáo luôn có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người Hoa dù ở bất cứ nơi đâu. 

N.T.N

-------------------

(1): Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam và Sở Văn hóa Thông tin Thể thao Đồng Nai (1997), Giữ gìn và phát huy tài sản văn hóa các dân tộc ở Đông Nam bộ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.207.

(2): Ludwig Theodore M. (2000), Dương Ngọc Dũng, Nguyễn Chí Hoan, Hà Hữu Nga dịch, Những con đường tâm linh phương Đông (Phần II- Các tôn giáo Trung Hoa và Nhật Bản), Nxb Văn hóa Thông tin, tr.171.

(3): Phan Thị Yến Tuyết (2004), Nghi lễ cầu siêu- cầu an trong cộng đồng các dân tộc tại Nam Bộ, Tham luận hội thảo Việt Nam học, tr.13.

(4): Belik A.A (2000), Văn hóa học- những lý thuyết nhân học văn hóa (Sách tham khảo- Lưu hành nội bộ), Tủ sách văn hóa học, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội, tr.148.

(5): Nguyễn Tri Nguyên (2000), Văn hóa tiếp cận từ vấn đề và hiện tượng, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, tr. 61.

(6): Lữ Vân (2003), Tôn giáo ở Trung Quốc- 100 câu hỏi và trả lời, Nxb Tôn giáo, tr.134.

(7): Lữ Vân (2003), sđd, tr. 135.

(8): Ludwig Theodore M. (2000), Sđd, Nxb Văn hóa Thông tin, tr. 187.

(9): Ludwig Theodore M. (2000), Sđd, tr.187.

(10): Ludwig Theodore M. (2000), Sđd, tr.187.