CHÀO MỪNG 90 NĂM THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (3/2/1930 - 3/2/2020); MỪNG XUÂN CANH TÝ 2020
HAI CÂU CHUYỆN, HAI LỜI KHUYÊN VÀ MỘT KẾT QUẢ

Ký của Đàm Chu Văn

(Nguồn: VNĐN số 32 – tháng 7 & 8 năm 2019)

 

Câu chuyện thứ nhất

Chúng tôi bước vào một trang trại nuôi gà ở xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Thật lạ, bước vào văn phòng, nơi chế biến thức ăn, chuồng trại nuôi gà mà không thấy cái mùi đặc trưng: mùi của thức ăn cho gà, hỗn hợp của cám, bắp, cá khô, mùi của phân gà và mùi của hàng trăm, hàng ngàn con gà lớn, bé. Ngược lại cả không gian thơm mùi cây cỏ như đang ở phòng thuốc đông y. Chủ trang trại là một phụ nữ trạc ngoài năm mươi, dáng tầm thước, nước da trắng và gương mặt dễ mến, lưu dấu một nhan sắc. Chị là Cao Thị Ten. Chị Ten kể, chị bước vào ngành chăn nuôi gà từ năm 1990. Lúc đầu là đi làm thuê cho công ty nuôi gà thảo mộc của Đài Loan. Thấy rất hay. Con gà được nuôi bằng thức ăn thảo mộc hầu như không bị bệnh tật, thịt rất thơm ngon, là món ăn ưa thích của các khách hàng nhà hàng cao cấp, bán được giá cao, lợi nhuận nhiều. Chị Ten mê lắm và manh nha một ý định. Sang thăm công ty bên Đài Loan, chị nói với kỹ sư Đài Loan, mày sang nước tao, tao thuê mày làm chuyên gia cho công ty của tao, trả lương cao. Kỹ sư Đài Loan nói với chị: Chúng mày không tự nuôi gà thảo mộc được đâu. Chị Ten mỉm cười và tận dụng những ngày ở thăm Đài Loan âm thầm học hỏi công nghệ. Nuôi gà thảo mộc quan trọng nhất là khâu thức ăn, cám nuôi gà phải trộn một tỷ lệ cây cỏ có tác dụng làm thịt gà thơm ngon và còn phòng bệnh cho gà. Tất nhiên người Đài Loan họ giấu bí quyết ấy, nhưng qua chuyến đi, chị cũng đã tiếp cận được nhiều điều.

Năm 2011, chị Cao Thị Ten chính thức thành lập Hợp tác xã nuôi gà thảo mộc. Lúc đầu cũng trầy trật lắm, vừa làm vừa nghiên cứu, rút kinh nghiệm. Thời gian “rút kinh nghiệm” ấy kéo dài tới 4 năm (2011- 2015). Và từ năm 2015 thì trơn tru phơi phới, cỗ máy đã chạy đều, thành quả thu về hàng ngày, hàng tháng. Gà nuôi 120 ngày (4 tháng) thì xuất chuồng được. Trung bình 1,4 ký một con. Gà mái 1,3 kg, gà trống 1,8 ký. Công ty Dona Coop bao tiêu toàn bộ sản phẩm xuất khẩu. Thị trường của gà thảo mộc hiện thời rất rộng, trang trại chưa đáp ứng được. Còn mênh mông các nhà hàng thực khách ưa món ăn cao cấp khắp các tỉnh Nam bộ và thị trường khổng lồ thành phố Hồ Chí Minh, ngoài Trung, ngoài Bắc. Trang trại Cao Thị Ten hiện nuôi hơn 10 ngàn con gà, xuất chuồng quanh năm vào các ngày thứ 3, 5, 7. Từ những ngày đầu năm thì xuất lai rai, nhưng từ tháng 6 trở đi là phải đáp ứng 200 con/ngày. Cuối năm 2015, ngày 30 Tết xuất cả ngàn ký gà. Gà được chuyển về Trung tâm giết mổ gia súc gia cầm huyện Thống Nhất, giết mổ rồi đóng gói, giao hàng cho công ty. Giá gà thảo mộc thương phẩm là 110 ngàn/kg.

Trang trại phải nuôi gà theo kiểu cuốn chiếu. Cứ 2 tuần phải nhập vào 4000 gà con mới đủ lượng hàng xuất khẩu. Nuôi gà thịt, trang trại còn nuôi gà đẻ trứng. Gà thảo mộc đẻ ra trứng thảo mộc. Giữa chừng buổi nói chuyện, chị Ten cử người luộc mấy chục trứng gà và mời chúng tôi cùng nếm thử. Trứng nóng bốc hơi nghi ngút, tỏa mùi thơm dễ chịu. Tôi bóc lần vỏ và hít hà mùi thơm thảo mộc của trứng, có vị bùi, ngậy, béo của trứng quyện lẫn mùi của cây cỏ, như mình vừa được xông hơi giải cảm. Gà nuôi 6 tháng thì đẻ trứng. Trang trại một ngày hiện xuất đi 300- 400 quả trứng. Giá bán ra là 4.000 đồng/trứng.

Chị Ten chia sẻ: quan trọng nhất là khâu chế biến thức ăn thảo mộc, bí quyết là ở đấy. Chị phải tự mình nghiên cứu, chế biến. Cứ nung nấu một ý nghĩ, họ làm được sao mình không làm được. Cám phải tự làm, không xài cám công nghiệp. Nguyên liệu ngoài hương thảo, húng quế, gừng nghệ… còn 6 thứ nữa mà mình phải tìm. Nước mình là xứ sở nhiệt đới, mênh mông cây cỏ, đông y dùng rất nhiều vị thuốc từ cây cỏ, người dùng được thì gia súc dùng được. Con gà hay mắc bệnh đường hô hấp, phải chữa bằng cây cỏ. Phải tìm loại cây cỏ gà thích ăn, đem lại mùi thơm cho thịt và giúp gà phòng chống bệnh. Và chị Ten đã làm được, đã thành công chế biến ra thức ăn thảo mộc Việt Nam cho gà.

Khâu giống gà cũng quan trọng. Tất nhiên giống gà nào cũng nuôi được. Hiện tại trang trại đang nuôi giống gà Mía lai thượng, gà ta lai thượng, thịt thơm ngon. Chị Ten đang nghiên cứu nuôi con gà công nghiệp đẻ ra trứng thảo mộc.

***

Câu chuyện thứ hai

Hợp tác xã chế biến xoài xuất khẩu La Ngà được thành lập từ năm 2015, hiện cũng là một địa chỉ đình đám, làm ăn có hiệu quả mà Liên hiệp các hợp tác xã tỉnh, huyện giới thiệu chúng tôi đến thực tế. Một năm hợp tác xã chế biến xuất khẩu sang Nga, Trung Quốc 700 tấn xoài sấy khô. Hiện đang có đối tác 1 tháng nhận ổn định 60 tấn xoài sấy khô xuất khẩu. Một ký xoài sấy khô xuất khẩu giá 150 ngàn đồng. Năng lực hiện tại Hợp tác xã chế biến thành phẩm 2 tấn/ngày, tức là vẫn còn khả năng nâng lên. Hợp tác xã hiện có 200 công nhân, mức thu nhập một lao động trung bình 10 triệu/tháng. Công nhân ăn lương theo sản phẩm, có người thu nhập tới 20 triệu/tháng. Hợp tác xã tạo công ăn việc làm cho dân tại chỗ, đời sống ổn định, đóng góp tích cực vào xây dựng nông thôn mới tại địa phương. Bức tranh phát triển bây giờ đã là màu sáng. Nhưng có một câu chuyện, chúng tôi lại gặp ở nơi đây.

Kỹ sư Hoàng Việt Hùng năm nay 59 tuổi, là Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Hợp tác xã. Anh có hơn ba chục năm công tác ở Công ty Mía Đường La Ngà. Nhận suất về hưu trước tuổi, năm 2015, hai vợ chồng anh Hùng về thành lập Hợp tác xã chế biến xoài xuất khẩu La Ngà. Qúa trình phát triển lại vẫn như một câu chuyện truyền thống mà ta vẫn gặp, tức là trước có khó khăn, vất vả sau thuận lợi, thành công. Nhưng thực tế còn phong phú nhiều hơn câu chuyện theo lối công thức đơn giản ấy. Đối tác của Hợp tác xã bấy giờ là người Trung Quốc. Mới thành lập, vốn liếng mỏng (4 tỷ đồng Việt Nam) nên Hợp tác xã chỉ thực hiện khâu chế biến ban đầu: thu mua, gọt vỏ, xắt miếng rồi đóng gói xuất sang Trung Quốc. Ở bên đó họ kiểm tra chất lượng sản phẩm và báo kết quả thanh toán về. Rất nhiều lần, bên này đã đóng gói đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, họ vẫn báo về hàng hư hỏng số lượng không nhỏ. Nếu tự mình bay sang kiểm tra thì tốn kém, nên đành phải chấp nhận kết quả theo họ thông báo. Lúc đó không bán cho họ là không bán cho ai được nữa. Xuất sang rồi, họ báo về hư thối mỗi chuyến vài tấn là thua lỗ. Chịu đựng đến năm thứ hai, thấy tình hình không thể chấp nhận được nữa, Hoàng Việt Hùng quyết định bàn bạc với Hội đồng quản trị, sẽ tăng thêm đầu tư máy móc, kỹ thuật để chuyển sang chế biến xoài sấy khô xuất khẩu. Việc này, anh cũng thương lượng với đối tác Trung Quốc và nhận được một lời khuyên: Sấy khô phức tạp lắm, chúng mày không làm được đâu.

Hoàng Việt Hùng về huy động vốn đầu tư mua máy sấy, học kỹ thuật sấy khô hoa trái. Là kỹ sư hóa thực phẩm, nhà trường đã trang bị cho anh nhiều kiến thức cơ bản của ngành chế biến hoa quả nhưng đi vào cụ thể của mỗi khâu, mỗi lọai hoa trái còn nhiều bí quyết riêng, phải tự mình tìm hiểu, học hỏi. Anh kêu gọi các thành viên HTX đóng góp đầu tư, còn thiếu huy động cả bên ngoài HTX góp vốn, nâng tổng số vốn đầu tư lên  đến 11 tỷ đồng. Hợp tác xã đã mua hệ thống máy sấy 5 tỷ đồng, cử công nhân đi học kỹ thuật vận hành, xây dựng thêm đối tác, tìm đầu ra cho sản phẩm. Và thực tế đã cho thấy thành công của sự “chuyển hướng chiến lược” này. Hợp tác xã chế biến xoài sấy khô thành công, còn sấy khô thêm được nhiều lọai trái cây và mở rộng được bạn hàng xuất khẩu. Một ngày HTX chế biến 50 - 60 tấn xoài khô xuất khẩu. Sản phẩm xuất khẩu sang Nga, Trung Quốc... Thêm máy móc thêm việc làm. Trước chưa có hệ thống máy sấy, tháng 6 hàng năm hết xoài chế biến công nhân phải nghỉ việc. Nay, ngoài đáp ứng công suất thường xuyên của máy sấy, Hợp tác xã còn huy động công nhân trong mùa xoài sơ chế, tích trữ trên 100 tấn xoài thịt, kết hợp chế biến các lọai trái cây khác như: chanh dây, mít sấy, dứa, chuối sấy để máy sấy và công nhân có việc làm quanh năm.

***

Trở lại với đặt vấn đề ban đầu, hai câu chuyện, hai lời khuyên cùng một nội dung và cùng một kết quả tương đồng. Khó khăn nhiều ư? Không thể làm được ư? Họ nói là việc của họ, còn làm hay không, thành công hay không là việc của mình. Hình như điều này tôi cũng đã nghe từ lâu lắm!

Vĩ thanh

Hợp tác xã chế biến xoài xuất khẩu La Ngà hiện đang nằm trên vùng xoài rất lớn của Đồng Nai, Nam bộ. Cứ yên tâm là nguyên liệu sản xuất sẽ là ở chính vùng đất này thôi nhưng thật bất ngờ khi chúng tôi hỏi thì được biết, 80% xoài phải mua từ Campuchia, chỉ có 20%  mua được ở Việt Nam thôi. Ở giữa vùng xoài của đất nước mà không mua được nguyên liệu chế biến. Vì sao? Đó là vì một điều biết rồi, khổ lắm, nói mãi: manh mún, tham bát bỏ mâm, canh tác không ổn định. Hứa đấy, hợp đồng và nhận đầu tư đấy, nhưng thấy lời trước mắt là bỏ ngay, phá ngay, chạy theo giống cây mới. Lúc ấy người thu mua theo hợp đồng ổn định đã ký kết với đối tác nước ngoài biết khóc bằng tiếng gì đây? Tất nhiên không phải mọi chủ vườn là như thế, nhưng đó lại là số nhiều, là đa số. Phải thay đổi tâm lý ấy, giữ chữ tín và làm giàu bền vững thôi, bà con mình ơi!

Đ.C.V