KỶ NIỆM 40 NĂM THÀNH LẬP HỘI VHNT ĐỒNG NAI
MỘT THUỞ TRƯỜNG SƠN

 

Trích hồi ký của Lê Liên

(Nguồn: VNĐN số 32 – tháng 7 & 8 năm 2019)

 

 

" ....... A4, ở đơn vị quen gọi là Tiểu đội Trường Yên vì có tới 9 anh em cùng xã nhập ngũ một đợt. Tiểu đội Trường Yên được bổ sung thêm 3 đồng đội mới, đủ biên chế 12 người gồm: Trung sỹ Bình, tiểu đội trưởng học trường hạ sỹ quan ra, người Hà Nam. Hạ sỹ Phú đảng viên làm tiểu đội phó, và chiến sỹ Tuấn quê Thanh Hóa.

Trước kia anh Ánh cùng xã bộ đội tái ngũ, làm tiểu đội trưởng, tiểu đội Trường Yên. Từ ngày anh được đi học lớp hạ sỹ quan, tiểu đội trưởng Bình về thay. Tôi được giao làm tổ trưởng tổ 3 người: Liên, Tuấn, Sở. Vào đến trạm thứ 4 của Trường Sơn, leo dốc 5 ngày thì Sở bị ngã trẹo chân. Mới bước vào những ngày đầu mà đã gửi lại trạm thì mất khí thế cho đơn vị, vì vậy chi bộ đã giao cho B.2, A.4 phải dìu Sở đi cho bằng được. Sở ở tổ tôi, lại là người Trường Yên nên tôi xin đảm nhiệm… Thế là mất gần một tháng, ngày nào tôi cũng đi thu dung với Sở. Chúng tôi thường về cuối cùng đội hình của cả đoàn. Tôi đeo rất nặng ngoài ba lô quân tư trang còn phải mang thêm một chiếc xoong nấu cho 12 người ăn, một khẩu súng trường, một chiếc xẻng và 7 ngày gạo ăn. Sở chống gậy đi trước, tôi đi sau, cứ qua cầu, qua suối hoặc lên dốc, chỗ nào khó tôi lại phải đặt ba lô xuống để dìu Sở qua… Sở có sức khỏe, lại được chúng tôi tận tình giúp đỡ, động viên... nên anh ta rất hăng hái và quyết tâm. Thấy tôi yếu hơn, lại phải đeo nặng, dìu Sở đi, Sở rất cảm động. Nhiều lúc anh ta ôm lấy tôi mà khóc nức nở. Tôi lại tìm cách an ủi động viên: “Sở thương tôi thì phải cố gắng đi, nếu không đi đơn vị sẽ gửi lại trạm, anh em mình phải xa nhau, không còn được ở bên nhau nữa”…

Chẳng may cho chúng tôi mới hành quân chưa đầy một tháng, Sở trẹo chân chưa khỏi thì Dĩnh lăn ra sốt, phải cáng anh ta cả tuần. Đến khi thấy Dĩnh mệt quá, đơn vị đành phải gửi vào bệnh xá của binh trạm. Đi tiếp được mấy ngày Thắng cũng bị sốt rét, tuy nhẹ hơn nhưng dai dẳng và người yếu đi nhiều. Cuối cùng tiểu đội Trường Yên mất tới hai người phải gửi lại dọc đường. Dĩnh và Thắng, đều được tôi đưa vào tận bệnh xá, chúng tôi chỉ biết ôm lấy nhau mà khóc, an ủi nhau, rồi chia tay trong nỗi đau như đứt từng khúc ruột.

Trường vẫn làm liên lạc đại đội, Sở đã đi một mình được không phải dìu nữa. Dĩnh và Thắng sốt phải vào viện, đến anh Khuy mắt kém cứ ngày nào hành quân đêm tôi lại phải đi với anh qua những chỗ khó. Chúng tôi càng đi dần vào gian khổ, càng thương yêu nhau, gắn bó với nhau hơn.

Cả tiểu đội lần lượt sốt rét và ốm, anh nào không sốt thì bị bệnh đau bụng, kiết lỵ. Tôi còn nhớ khi đến trạm 14 ở Lào hành quân từ 5 giờ sáng đến 10 giờ đêm, tới trạm lại phải đi hàng tiếng đồng hồ mới lấy được nước về nấu cơm. Đất Lào vào mùa khô, rừng khộp khô như đi trên sa mạc. Cả tiểu đội thêm 4 anh em nữa đau bụng, kiết lỵ. Riêng tôi nhờ biết rèn luyện và giữ gìn sức khỏe, không ăn uống bừa bãi, chăm uống thuốc phòng bệnh nên càng đi vào gian khổ, tôi càng khỏe mạnh dẻo dai. Từ một thằng gầy yếu nhất tiểu đội, trở thành người “chủ lực” của cả trung đội. 

Các công việc của tiểu đội, trung đội thường do cho tôi gánh vác, nào là đưa đón thu dung, mang vác, khênh người vào viện, thậm chí cả những việc bình thường hàng ngày như nấu cơm, lấy nước... đào hầm hố. Việc gì tôi cũng cố gắng đảm nhiệm.

Một tai họa đã bất ngờ giáng xuống chúng tôi. Ngày đó vào khoảng trung tuần tháng 3 năm 1969. Đi tới trạm T.18, thuộc đất B.3 thì cả đơn vị bị máy bay địch đánh vào đội hình. Trạm T.18 là trạm phụ, rừng le. Về mùa khô cây rừng rụng lá trống trải. Do đoàn lẻ đi thu dung với “Bài ca ống cóong”, họ nấu ăn dọc đường để khói lên, máy bay trinh sát địch phát hiện. Mới khoảng 15 giờ chiều, cả đoàn đang triển khai đội hình chuẩn bị hành quân đêm thì bị đánh. Ngay sau khi chiếc L.19 bắn trái điểm trúng đội hình, lập tức một tốp 3 chiếc HUIA xuất hiện, chúng mặc sức rà soát đội hình thả lựu đạn, phóng hoả tiễn và bắn đạị liên xuống đầu chúng tôi. Đơn vị hành quân theo hàng dọc, đại đội 1 đi đầu bị đánh trước. Đại đội trưởng Đạt hy sinh ngay từ loạt đạn đầu tiên của địch. Mệnh lệnh tiểu đoàn đưa xuống: “Tất cả đứng, ngồi, nằm im tại chỗ. Không ai được nổ súng” (Tiểu đoàn chưa ai có kinh nghiệm chiến trường, Tiểu đoàn trưởng lại là người quen chỉ huy pháo phòng không. Ông sợ lộ mục tiêu, ngay khi địch đã bắn phá vào trúng đội hình của đơn vị). Tôi chỉ mới kịp cuốn chiếc võng bạt to xù nhét vào ba lô thì 3 chiếc HUIA đã lao tới. Chúng rà ngay trên đầu. Tôi nhìn rõ hai tên Mỹ mặt đỏ như gà chọi kẹp đại liên trên cửa chiếc trực thăng nhả đạn xối xả xuống mặt đất. Vội chộp khẩu CKC, áp sát vào bụi tre gai bên cạnh, tôi lên đạn, rê nòng súng theo những thằng địch lượn trên đầu. Bỗng Trung đội trưởng Minh nhào tới, đập mạnh tay lên đầu tôi rồi ấn xuống. Anh thét lên: Lệnh tiểu đoàn, không được bắn, mày muốn chết hả Liên?

- Oành….oành… re..t…r..e..t….

Hai trái hoả tiễn cầy đất bụi mù trước mặt. Tôi thấy Huynh, chiến sỹ trung đội 3 bị hất tung lên. Cả thân hình của anh nằm vắt lên một ụ mối (Huynh vừa chạy khỏi bụi tre, định nhẩy xuống công sự gần đó để núp. Mục tiêu di động, mấy thằng Mỹ trên trực thăng đã phát hiện). Hai hàm răng nghiến chặt đến bật máu, trong hoảng hốt và sợ hãi, tôi thét lên:

- Ôi Huynh! Huynh chết rồi…

Vừa lúc chúng bay vòng ra xa… Trung đội trưởng Minh và tôi kịp lăn xuống một công sự cá nhân gần đó nằm im tránh đạn. Cả đội hình đơn vị đang như run lên bần bật… thì may thay một chiến sỹ giao liên ở binh trạm có kinh nghiệm chiến đấu nổ súng bắn cháy một chiếc trực thăng, hai chiếc còn lại hoảng hốt tháo lui. Chỉ ít phút sau từng tốp phản lực đã điên cuồng quần đảo, trút bom xuống trận địa. Chúng tôi được lệnh nhanh chóng thu quân về trạm chính.

Trung đội trưởng Đặng Văn Minh, như đã đến lúc phát huy sở trường của mình. Anh ra lệnh:

- Toàn trung đội thu quân rút về trạm chính. Ưu tiên cứu thương binh và vác tử sỹ ra trước. không được để ai nằm lại.

Tôi chồm ngay đến với Huynh thì nhìn thấy cậu Ri đang lăn lộn trên vũng máu bên kia ụ mối. Biết Huynh đã tắt thở. Tôi nhào đến với Ri. Trời ơi!.. tôi thốt lên… một loạt đạn đại liên đã sé nát chân trái của Ri, từ bắp đùi trở xuống chỉ còn dính chút da mỏng.

- Ri thều thào: Cứu…cứu …tôi…v..ớ..i.. - Rồi Ri lịm đi trên tay tôi.

Máu ở đùi Ri phun ra thành dòng. Vội xé chiếc áo trong của mình, tôi cột ga rô và nhẹ nhàng cõng Ri trên lưng, tay trái còn ẵm luôn một mớ nhầy nhụa cả thịt và xương cẳng chân của Ri. Trong đầu chỉ thoáng qua một ý nghĩ phải nhanh chóng đưa bạn ra khỏi nơi nguy hiểm sợ địch sẽ oanh tạc trở lại.
     Cả Đoàn 2118 hy sinh 41, bị thương hơn 30 người, trong đó có 24 thương binh nặng phải cáng. Trung đội tôi hy sinh 3 đồng chí là: Giang, Huynh và Ri, cả ba đều là người cùng huyện với tôi. Tiểu đội Trường Yên không bị thương vong ai. Song lúc này gần như cả tiểu đội bị ốm. Bị đau bụng đi ngoài, song tôi đã quyết tâm xung phong cùng bộ phận ở lại chôn cất tử sỹ và cáng thương binh đi viện.
Chúng tôi phải tạm biệt nhau. Tôi ở lại với Vị, người duy nhất còn khỏe của tiểu đội Trường Yên.

Trạm T.18 bị đánh phá tổn thất quá nặng, trời về mùa khô rừng bị đốt cháy trơ trụi, các đồng chí ở trạm phải sơ tán hết. Thế là chỉ còn lại đoàn chúng tôi, do đồng chí Chính trị viên tiểu đoàn chỉ huy có nhiệm vụ chôn cất tử sỹ và đưa thương binh về bệnh viện binh trạm đường dây B3. Cứ ba người khiêng một thương binh, số bị thương nhẹ thì phải dìu và tự đi bộ, Chúng tôi phải đi ngược lại ba trạm từ T.18 về T.15 mới đến được bệnh viện.
     Suốt ba ngày đêm đi liên tục không nghỉ. Chúng tôi đã đưa được số thương binh về bệnh viện an toàn và tiếp tục hành quân quay lại đuổi theo đơn vị. Trời đổ mưa ba ngày liền, nước ngập trắng rừng, có chỗ phải lội đến bụng. Chúng tôi trầm mình trong mưa gió vượt về tới trạm cũ thì nguy cơ chết đói vì hết gạo ăn. Trạm T.18 bị địch đánh phá, gặp mưa lũ, không liên lạc được ai. Thế là lại phải đi 5 ngày nữa mới sang đất B2 mới có kho lĩnh gạo ăn.

Cả đoàn thu dung còn 125 người biên chế thành 10 tiểu đội. Gom tất cả số gạo còn lại chia đều cho 10 tiểu đội. Tiểu đội tôi có 12 người, mỗi người được hai lon gạo nấu cháo loãng đổ vào bình tông. Chúng tôi đã uống nước cháo cầm hơi, quyết sống và đi cho đến A2.

Ở tiểu đội tôi được đi cùng với Vị người Trường Yên, Vị và tôi quyết sống chết bên nhau. Hai anh em còn được hai miếng lương khô mỗi miếng chỉ bằng cái bao diêm. Chúng tôi cố chịu đựng đến hết ngày thứ 3 thì sức đã kiệt. Cả đội hình lầm lũi, lê lết, mạnh ai người nấy đi, gần như chẳng ai còn giúp được ai, nói với ai. Chúng tôi nhìn nhau bằng đôi mắt xót xa, ứa lệ. Cứ đi được khoảng một giờ là cả đội hình lại nằm lăn ra mà thở. Có người đã vặt cả lá rừng cho vào miệng… Những lúc như vậy đồng chí Chính trị viên tiểu đoàn cùng cậu liên lạc lại đi từ dưới hàng quân vượt lên. Anh chẳng nói được gì với chúng tôi nữa… Khi gặp đồng đội nào quá mệt, lả đi thì Chính trị viên lại vỗ về và lôi bình toong cháo ở ba lô ra nói đồng chí liên lạc rót vào miệng cho anh ta vài nắp bình. Thi thoảng chúng tôi lại nghe một mệnh lệnh chuyền lại từ chính miệng mình thì thầm với đồng đội kế bên: “Hãy can đảm tiến lên các đồng chí”. Ôi! Một mệnh lệnh, một lời hịch và cũng là một tiếng gọi thiêng liêng, trong tình thế sống còn, thôi thúc… Đấy là lời của Chính trị viên, tiếng của Thủ trưởng đoàn. Thế là chúng tôi lại cố dìu nhau đi, lại bò, lại lết mà đi…" .

L.L