KỶ NIỆM 40 NĂM THÀNH LẬP HỘI VHNT ĐỒNG NAI
NGƯỜI KẺ CHỢ

Truyện ngắn của Nguyễn Minh Đức

(Nguồn: VNĐN số 32 – tháng 7 & 8 năm 2019)

 

 mh truyen ngan Nguoi ke cho.jpg
Minh họa: Hứa Tuấn Anh

 

Tầm gà gáy canh ba thì Trung thức dậy. Vai Trung mang theo đôi quang gánh từ thời ông bà Nuôi để lại rời khỏi nhà mình khi cả làng còn chìm trong giấc say nồng. Không kể ngày đông hay mùa hè nóng nực, mưa phùn giá rét hay giông gió bão bùng, mỗi sáng Trung cũng đều đặn ra bến làng Nhân gánh hàng sớm như thế. Chưa bao giờ chiếc đòn gánh rời khỏi đôi vai. Nó cứ bám chặt đời Trung như hình với bóng. Chiếc đòn gánh ông Nuôi đẽo bằng nửa thân cây tre đực sát gốc đã mòn lì, nhẵn bóng cả mắt sẹo như đôi vai Trung vậy. Nghe nói Trung cao tới đầu gối ông Nuôi đã đi cắt cỏ, đầu cao bằng hàng rào cúc tần thì đi gánh nước thuê, cao hơn chút nữa thì gánh hàng từ bến sông lên cho người buôn thuyền trên bến ra chợ. Ai mà đoán biết được tuổi đòn gánh so với tuổi Trung ai nhiều hơn!? Người làng Nhân chỉ biết Trung và đôi quang gánh ấy là cặp bạn hợp thành một chỉnh thể gọi là người kẻ chợ.

Trung ra tới bến làng Nhân khi những thuyền buôn người làng Thượng mang theo đủ thứ hàng hóa cập bến. Hàng gồm những thùng giá đỗ xanh nén chặt trong ổ lá chuối lá tre cài nắp cẩn thận; ruột hến đã luộc, đãi sẵn trong đêm đầy ắp những rổ, những mẹt trắng phau, căng mòng thơm phức; những thùng nước hến bạc sóng sánh nóng hổi nghi ngút khói tỏa mùi thơm dịu ngọt, ngai ngái nồng nàn; trái cây đủ loại và vô số kể sản vật mang từ miền Thượng sơn về đợi Trung ngập ngậy cả một bến sông.

Con gái làng Thượng tiếng nói ồm ồm chẳng mấy thanh cao nhưng giọng ấy lại kéo dài cà rê đầy chất thi ca nghe dễ thương và khá dễ chịu. Đôi khi xuôi dòng thuyền vừa cập bến không ngược nước đã có cô gái ngẫu hứng dừng chèo buông lơ câu ví đò đưa:“Hỡi là người ơi! Thiếp thương chàng đừng cho ai biết/ Mà chàng thương thiếp đừng để ai hay/ Kẻo ra miệng thế lắt lay/ Khổ chàng chín rưỡi, mà khổ thiếp đây mười ơ… phần...”. Người chưa nghe quen thể nào cũng nghĩ giọng điệu ấy có phần điêu toa lắm, nghe nó hoang đàng như dân chợ búa. Nhưng với Trung thì chất giọng ấy có sự quyến rũ lạ kỳ, nghe như men say, lạ lùng mà ấm áp, kích thích mà gợi nhớ, lúc dềnh lên, lúc dạt xuống, lúc da diết mênh mang như bến sông nước làng Nhân sâu thẳm xưa xăm. Hôm nào mệt không ra bến tải hàng lên chợ được thì y như rằng hôm đó người Trung như có hàng ngàn con kiến bò trong tủy xương, càng ngồi yên càng bứt rứt khó chịu.

Từ bến làng Nhân tới chợ mất quãng đường ba mươi phút đi bộ nhưng phải leo qua dốc một con đê cao vút. Mấy ai lên được khỏi dốc đê ấy mà mồm và mũi không thi nhau thở trước!? Việc ấy với Trung chẳng có gì lạ. Có hôm vừa lên khỏi dốc, Trung đã phải đặt gánh xuống nghi ngút thở. Trung bảo chẳng riêng gì mồm và mũi đâu, đến cả lỗ chân lông cũng thế. Cứ chỗ nào có lỗ thoát hơi trong người có thể chui ra được cứ thế mà chui cho thoải mái. Người canh điếm giờ đó cũng về rồi, chẳng việc gì phải giữ trong người cho nhọc lòng giữa triền đê mênh mang gió. Trời phú cho Trung có chút sức khỏe, vị chi mỗi sáng cũng chạy được cỡ dăm chuyến, vừa hết hàng là lúc tờ mờ sáng. Mỗi chuyến được người buôn thuyền làng Thượng trả chục ngàn đồng. Hôm nào mệt mỏi hoặc mưa gió bấm bùn đường trơn, Trung chạy được tối đa ba chuyến mồ hôi đã đầm đìa lưng áo rồi.

Nhưng Trung vui lắm. Cầm được đồng tiền sạch sẽ con gái làng Thượng lận trong cạp quần trao tay nóng hôi hổi, Trung cảm động rưng rưng và tủm tỉm cười vì mùi thơm quyến rũ của nó. Tất cả những đồng tiền còm cõi làm ra ấy Trung đưa cho mẹ, chẳng giữ lại riêng mình bao giờ. Giữ lại làm gì kia chứ!? Sắn khoai cơm cháo mẹ lo, Trung chẳng biết nghĩ gì nhiều nên cầm tiền mệt lắm. Nhỡ đánh rơi thì thương những chuyến thức khuya dậy sớm chứ chẳng đùa. Trung nói thế là ngày chưa nghe ai hát ở bến làng Nhân. Chỉ từ ngày nghe con gái làng Thượng cập bến lả lơi khúc ví đò đưa bỗng lòng Trung thấy xao xuyến lạ. Việc này Trung chưa hề nói cho ai biết mà chỉ tủm tỉm mỗi khi nghe hát thôi. Thảo nào mấy lần bà Nuôi có ý giục xem đám nào chịu thì hỏi lấy một đám làm vợ mà chỉ thấy Trung đưa tay che miệng cười không nói.

Thường lệ canh ba, bà Nuôi gọi Trung thức giấc ra bến gánh hàng cũng là lúc bà lục tục đỏ lửa nhóm lò đặt ấm nước chè xanh. Bà đem ủ vào hai cái giành lớn gần bằng hai cái thúng ông đan bằng mây vàng óng tặng bà thời mới về nhà chồng. Nay ông mất rồi, chỉ còn hai mẹ con giữa đời với đôi quang gánh của Trung, đôi giành ủ nóng nước chè xanh của bà và con chó mực đốm vàng trông như bốn mắt là những thứ có giá trị. Chưa khi nào bà Nuôi nấu nước chè không xanh và không sánh đặc vì bà luôn chọn được loại chè đồi nhỏ và dày lá, không quá già cũng chẳng còn non. Bà Nuôi nói thứ chè ấy nếu đượm lửa nấu lên nhìn bát nước mới xanh sánh vàng như mật ong được. Thảo nào ông Cu bện dây thừng đem bán giữa chợ cứ tấm tắc khen nước chè bà Nuôi uống vào cứ chát xin xít ngọt lịm đầu lưỡi đầu môi. “Đúng thế ông Cu ạ! Ai uống cũng khen vị đậm đà như cuộc đời mẹ con tui vậy”. Trung cảm ơn ông Cu bằng cái gật đầu rồi tủm tỉm che miệng sau tay áo. Lưng bà Nuôi còng như con tôm không gánh được, chỉ đợi Trung gánh hàng cho người làng Thượng bến sông về mới lại tong tả gánh nước chè xanh ra chợ, bà chống gậy lẽo đẽo theo sau cho kịp bán nước buổi sáng.

Người làng Nhân có thói quen đi chợ sớm lắm để còn kịp về làm đồng. Mấy ai đi chợ mà quên không ghé hàng cháo lươn, cháo lòng, bánh khô, bánh ướt đầu ngõ chợ!? “Nó như một thói quen khó bỏ lắm”. Ông Cu bỏm bẻm nhai trầu đang đưa tay vuốt nước trầu vương khóe miệng đỏ nhoe nói thế. Bà Chắt đứng đó dỏng tai nghe ông Cu nói đúng “tim đen” của mình nên cười phe phe, phô cả hai cái lợi đỏ ối vì chẳng còn chút răng nào nữa. Bà Chắt phân bua hồi trẻ bà nhiều răng lắm, đố đứa nào mời được bà ăn bữa cháo giữa chợ đông người. Ấy vậy mà khi những chiếc răng hạt huyền mẹ bà nhuộm cho thời thiếu nữ thi nhau rơi rụng, lần lượt ra đi khỏi hàm thì bà thương bà tiếc cái mồm mình móm mém lắm. Mỗi cữ sáng đi chợ chẳng khi nào bà rời được hàng cháo lươn. Ăn xong móc vài đồng tiền ra trả tiền cháo lươn và bát nước chè xanh của mẹ con Trung. Bà súc miệng òng ọc tẩy rửa hàm không răng xong nhổ đánh toẹt vào bãi đất trống bên đường trước khi cười phe phe cắp nón bước đi, bỏ lại câu nói trống huơ trống hoác: “Thứa thà tho thả khày, thịn thả khày thược thồi!” (Rứa là no cả ngày, nhịn cả ngày được rồi!). Khổ thế. Người không răng đến nói đến cười cũng khó. Nụ cười, giọng nói cũng phe phe nghe đến tội nghiệp.

Người buôn bán giữa chợ hiếm có ai mang theo nước uống. Dường như tất cả họ có thói quen khó bỏ, người này truyền tai người kia, thế hệ này truyền tai thế hệ khác đều chờ đợi gánh hàng nước của mẹ con Trung bán hằng ngày. Mỗi bát chè xanh trao tay người uống chỉ vài trăm đồng bạc thôi chứ nhiều nhặn gì đâu. Có người sáng tới trưa cũng phải làm vài ba cữ mới đã cơn khát. Ấy vậy mà có ối người nghĩ vài trăm đồng bạc lẻ chẳng bõ bèn gì nên có khi trưa chợ thì ra về luôn quên không trả. “Ai quên là việc của họ, quên ngày trước ngày sau uống tiếp mà vẫn không trả thì mới gọi là quỵt tiền nước chè xanh của nhà bà nhá”. Mụ Hớn tỉa lô lòng lợn nói thế. “Nhà mụ thiếu chi tiền. Vài bát nước chè xanh trong cái giành cóc ghẻ thấm chi so với mớ lòng lợn ngồn ngộn buổi sáng của nhà mụ. Mà lòng lợn thì đến cả chợ này ai mà không thích chứ. Sáng ra, cứ có đĩa lòng lợn nóng hôi hổi vừa thổi vừa nhấm với chai rượu cuốc lủi thì đời này sướng hơn tiên nhé. Buổi sáng, uống cho nhiều nước chè xanh mà chẳng có chi tống vào bụng thử coi! Nó không đào lộn tùng phèo ruột gan từ dưới lên trên chặn lấy cổ họng chắc!?”. Mụ Hớn ngoa ngoắt cứ thế xoe xóe đếch đứa nào dám làm gì được mụ, cũng chẳng ai đấu điều. Nhà mụ Hớn đanh đá có nòi có giống cả chợ ai mà không biết để tránh xa. Bà Nuôi nhắc khéo: “Điều nhịn chín điều lành con ạ!”. Trung cũng chỉ tủm tỉm cho qua chuyện rồi lầm lũi bước đi.

Người kẻ chợ làng Nhân hiếm khi gọi Trung với cái tên chính danh do ông bà Nuôi đặt cho. Việc ấy Trung thừa biết.Về cơ bản người hiểu và tôn trọng thì gọi trìu mến “Anh Trung”; “Bác Trung”; “Chú Trung…”. Số này đông. Nhưng trong dân kẻ chợ không thiếu kẻ hợm đời tỏ ra khinh khi tự coi mình là người hoàn hảo. Nghĩa là không sứt môi lồi rốn, không hở hàm ếch, hai mắt mở to giương lên nhìn đời mênh mông như cô gái đầy nhan sắc tự tin dự cuộc thi sắc đẹp tự đắc giật giải. Với họ, những nụ cười thật thoải mái rạng rỡ chẳng bao giờ phải e dè lo sợ kiêng cữ hở kẽ răng. Trung khác họ ở chỗ chỉ luôn tủm tỉm giấu nụ cười trong vạt áo nhàu vì nhỡ cười to thì tự làm tội làm tình mình, vừa hở mồm đã phải thít vội ngay vào vì nước miếng có thể rớt ra lúc nào chẳng hay không cách gì giữ lại được. Cũng bởi thế mà ống tay áo Trung luôn ướt là có lí do của nó. Họ cũng tự coi họ là người bề trên vì có của ăn của để, làm ăn buôn bán giữa chợ lâu năm tích cóp được hoặc bằng nhiều cách khác mà trở nên giàu có. Thành ra bỗng dưng họ là người bề trên. Còn Trung, nhờ có chút sức khỏe gặp lúc thuyền buôn chuyến đường sông người làng Thượng đổ về cái chợ làng Nhân này mà có công việc để làm, có thu nhập trang trải cho cuộc sống của hai mẹ con. Tuy không nói ra nhưng Trung luôn tự biết yếu điểm của mình chỗ nào. Bởi vậy, chưa khi nào ai thấy Trung cười hô hô ha ha cả. Một bữa mấy thằng bé chăn trâu thách đố làm sao để bác Trung cười ha ha. Chúng hò nhau đè Trung ra mà cù léc chọc ghẹo. Trung vừa mở mồm nước đã ứa ra ngập chân răng vội thu mồm lại không tài nào cười được nữa. Chỉ thế thôi là cả lũ chăn trâu cười bò lăn bò càng ngoài bãi. Lũ trẻ ấy khác nào hạng người bề trên mà Trung biết trong kẻ chợ!?

Một buổi sáng mùa hè nóng nực vừa đặt gánh nước xuống giữa đình, chưa kịp lấy nón quạt cho ráo mồ hôi lưng đã nghe thấy vợ chồng tay Hớt ngồi bán thịt sát bên sạp nhà mụ Hớn tỉa lô lòng lợn xoe xóe:

- Ê! Thằng Trung nhỉ! Mang đây bọn tao mỗi người hai bát nhé.

- Dạ thưa ông bà. Có liền ạ.

- Khiếp! Cái tay nhà mày bôi chi mà đen cóc cáy như dùi đục thế hử. Mắt thì kèm nhem, sáng ra chưa rửa mặt á? Trông kinh lên được!

- Dạ thưa không!

- Bát uống nước có được rửa không đấy!? Nhớ tráng bát cho tao ba lần. Nhớ là ba lần mới được rót nước đưa sang đây nhá!!!

Nói xong, mụ quay sang đon đả với khách hàng mua lòng lợn. Trung vội đẩy cái nón cời mê lên vắt ra phía sau lưng tráng bát rót nước, hai tay khệ nệ lót lá mang sang. Nước chè quánh thơm chảy xuôi từ vòi ấm tích xuống xanh vàng lòng bát làm Trung chợt nghĩ, đã là bề trên họ nói gì chả được. Làm sao họ không có quyền ban phát bố thí ánh nhìn và cách gọi kia chứ! Miệng xinh đẹp để nói điều hay nhưng thời nay ối người xinh đẹp mà phát ra đủ thứ trên đời, sẵn sàng gọi những cái tên gắn nghiệp chướng hoặc dị tật cơ thể ai đó lắm chứ? Ai bắt được họ nào? Trung nghĩ thế nên kệ. Thân mình mình chịu, việc mình mình làm. Miễn đừng ai đánh Trung mà tội. Ai gọi sao cũng được. Gọi thì Trung dỏng tai nghe. Sai bảo làm gì thì Trung làm. Cốt sao có việc để làm. Cốt sao bán được nước chè mỗi sáng là vui rồi. Không có việc làm, không bán được nước chè xanh thì đến cơm mà ăn cũng chẳng có. Đôi khi Trung lí sự cùn trong ý nghĩ vậy thôi chứ có bao giờ nói được ra đâu. Trung còn nghĩ người như Trung một đời không làm gì hại ai thì ai đánh kia chứ!? Người ta ghét bỏ khinh khi kệ họ. Biết được họ ghét dị tật của Trung hay chính cái sự ghét ấy là dị tật cố hữu nằm trong đầu của những kẻ bề trên!? Chẳng biết đâu mà lần, mà cũng chẳng rỗi hơi đâu mà lần chuyện ấy. Việc của Trung là đêm về sáng thức đợi gánh hàng, rồi sáng ra gánh nước chè xanh ra chợ bán. Nhiều lần tự nhủ an phận thế cho nó lành. Có cười thì tự cười với chính mình thôi. Còn lại thì về nhà chơi với con mực cũng sướng chán.

Mà đúng thật. Sau mỗi ngày vất vả, Trung về nhà chỉ có con mực đốm mắt làm bạn. Hôm nào cũng thế, Trung vào đến ngõ nó đã phục sẵn ở đấy rồi nằm phủ phục xoay một vòng dậy kêu ăng ẳng quấn lấy chân như không muốn Trung rời nửa bước. Trung giơ tay lên nó nhảy câng cẩng theo tay, ngồi bệt chắp bằng chân nó nhảy vào lòng cuộn tròn như đứa bé. Có khi mải nô cùng nó mà Trung muốn nhọn mồm huýt sáo cưng nựng nó nhưng nước từ chân răng túa ra chẳng ngăn được. Nhìn vào mắt mực đốm có thể biết ngay, chưa khi nào nó lừa dối Trung điều gì. Trung cũng vậy, lừa được ai kia chứ! Mực là đứa trung thành tuyệt đối. Dáng nó thon gọn và đẹp mã, cái lưỡi có đốm đen. Người ta bảo chó có đốm đen vậy là khôn hơn người. Nó cũng nhễu nước mỗi khi đi nắng về nằm thè lưỡi. Khác với Trung - nhễu bốn mùa. Khi ngồi buồn Trung thường so sánh dáng đi, kiểu ngồi, kiểu muốn cười cũng phải che tay sau ống áo, nghĩ đôi khi mình không bằng mực đốm.

Nhưng đời là vậy mà, có bao giờ Trung không nhún nhường trong tâm thế của người có chút khiếm khuyết trên cơ thể đâu. Ở đời ai mà chẳng “có tật giật mình” kia chứ! Thà rằng thế còn hơn ối người tật tội đầy mình mà cố tình che đậy. Bao năm làm người kẻ chợ, Trung thừa biết che đậy làm sao được hết kia chứ. Sáng ra nhà ai có việc gì hay con cái nhà ai ở đâu về hôm trước, thì y như rằng ngoài chợ đã hỏi nhau í ới râm ran. Ai bịt được mắt, được mồm thiên hạ bao giờ!? Bằng chứng là cô Ngâu bên xóm Dâu, người to phốp pháp không chồng mà chửa. Ngày cô mang thai, mẹ cô ép cô phải uống thứ thuốc gì đó để phá nhưng không thể đẩy được cái thai ra ngoài. Cuối cùng cô Ngâu đẻ non ra một đứa gái tội nghiệp thọt một bên chân để khốn khổ một đời đứa gái. Lại chuyện tay Hớt tỉa lô giữa chợ, vì tham ăn giành khách với chỗ ngồi tốt mà dùng cả tấm phản kê thịt thoi một phát vào gáy ông bạn đồng hao ngã khuỵu xuống đất phải đưa đi viện cấp cứu. Ngay ngày hôm đó chẳng có án mạng nào xảy ra nhưng đi viện về thì tàn phế hẳn. Ba tháng lơ ngơ đầu đau như búa bổ rồi buông bỏ thế gian. Tòa kết luận nguyên nhân cái chết do chấn thương sọ não. Phải đền bù ối tiền cho gia đình người chết đã đành mà sự nghiệp con cái của Hớt cũng khuynh gia bại sản. Còn cái tòa án lương tâm cắn rứt mãi cuộc đời nhà Hớt, chẳng khi nào buông tha nữa. Cứ đau ê ẩm toàn thân như người kẻ chợ mất thẻ môn bài. Đấy, những chuyện đó Trung biết chứ!

Những tưởng cuộc đời chẳng ai màng tới người kẻ chợ như Trung. Thấm thoắt mấy bữa người làng Thượng không thấy ra gánh hàng cập bến lại lo nghĩ Trung ốm. Nào ngờ hôm sau đã thấy lần đầu tiên Trung mang dép dợm bước trước trên triền đê làng Nhân, theo sau là một cô gái nem nép e thẹn che vành nón lá. Dân kẻ chợ bán tin bán nghi Trung cưới vợ. Tất nhiên vợ Trung chẳng phải cô gái làng Thượng buôn chuyến đường sông. Người hát ví đò đưa trên sông là gái có chồng sao bỏ mà theo Trung được? Những câu hát buông lơi ví đò đưa da diết ngày nào chỉ là sự gợi nhắc trái tim Trung rung động thức dậy đầu đời. Ở làng Nhân này, người trai mới lớn nào nghe hát ví đò đưa giữa bến sông đêm trăng thanh vắng rờ rỡ sáng ấy mà không rung động được kia chứ!? Trung cũng là con người, là con trai hẳn hoi, là đàn ông đàng hoàng chứ có phải gỗ đá đâu!? Đám cưới Trung với cô gái người làng Dụ diễn ra đầm ấm giữa làng Nhân với vài người lớn đôi bên và chòm xóm. Giữa dãy bàn đặt đôi đĩa kẹo xoắn tít hai đầu, vài đĩa trầu cau, mấy gói thuốc lá thơm và mấy chai rượu nếp bà Nuôi tự cất lên từ cái nồi ba tầng có mu rùa chảy xuống. Thế cũng đủ hành tỏi thành vợ chồng như đũa có đôi.

Lưng bà Nuôi gập lại. Một ngày đầu đông mưa gió bời bời, bà chẳng buồn ăn chút cháo loãng con dâu bón cho nữa mà bỏ đi theo ông ra cánh đồng làng. Vợ chồng Trung rưng rưng tiễn mẹ rồi trở về tiếp quản gánh nước chè xanh giữa chợ với mênh mang nỗi mưu sinh. Ngày bà Nuôi còn sống, ước đỏ mắt rồi cũng tìm được vợ cho Trung. Thật ra, bà chỉ có công nuôi chứ không có công đẻ. Bao năm nghĩa vợ tình chồng nhưng bà không có nổi mụn con cho ông. Cuối cùng cũng xin được đứa trai ai đem bỏ cửa chùa, chỉ mỉm cười mà không khóc không nói. Lành như đất, thật như đếm. Chỉ đôi môi là không lành lặn thôi. Nuôi Trung, bà nghĩ âu cũng là phúc phận đời mình. Chỉ tiếc bởi Trung mang dị tật từ một căn nguyên nào đó như người thời nay gọi là chất độc da cam (dioxin), lại trong cái cảnh gia thế nghèo hèn nên Trung chẳng được học hành gì. Dị tật như là bẩm sinh lâu ngày thành nhút nhát rồi thua thiệt đủ đường. Phải chăng đó cũng là mầm cội cho người đời có kẻ dè bỉu khinh khi!? Nhưng trong sâu thẳm lòng Trung cũng như biểu hiện việc làm hằng ngày, chưa bao giờ ai thấy anh đầu hàng số phận. Trung vẫn cứ lầm lũi lớn lên rồi cũng chính Trung chứ không ai khác chăm lo phụng dưỡng khi sống, thuốc thang lúc ốm đau và phụng thờ khi ông bà về cõi khác. Ngày còn sống, nghĩ đến đó bà Nuôi ứa nước mắt khi nhìn thấy những đứa cháu nội là con của vợ chồng Trung lần lượt chào đời đều có dấu hiệu mang dị tật như Trung. Không biết giọt nước mắt đó của bà Nuôi là sung sướng mãn nguyện hay bất hạnh khổ đau thêm giữa cuộc đời này nữa.

Cuộc đời Trung ngoài bà Nuôi ra, không ai ngoài mình hiểu rõ mình hơn. Chẳng bao giờ Trung nề hà việc bé mọn hay bẩn thỉu, hôi hám. Những việc mà người bề trên đố ai dám thò tay vào. Nói như lũ trẻ làng Nhân, bác Trung thuộc lớp người không ngán gì thời tiết. Đúng cái hôm cả làng mắc bệnh dịch tả hoành hành, người người nhà nhà chạy đôn đáo kêu thầy tìm thuốc mà nào có xuể được khi cả làng vài chục người cùng lúc mắc dịch như ngả rạ. Vài người oan uổng chết trong sự xa lánh tủi buồn của người thân, gia đình và làng xóm, có người đang lả dần trước sự sống mong manh. Độ ấy y tế dự phòng huyện về địa phương yêu cầu các gia đình có người mắc bệnh cáng ngay người bệnh về sân kho hợp tác xã. Trung là người xăng xái nhất, đảm nhiệm một đầu cáng võng chạy bộ phăng phăng trong đêm tối hết chuyến này đến chuyến khác đưa người bệnh đến chỗ tập trung mà chẳng nghĩ đến mình. Nỗ lực đó được đền đáp khi tất cả người bệnh được đưa ra tập trung ngoài sân kho cứu chữa đều cải tử hoàn sinh. Bao người làng Nhân luôn nhớ ơn cứu mạng, nhưng khi họ nói lời hàm ơn, Trung chỉ tủm tỉm không nói.

Thương tình hoàn cảnh vợ chồng Trung, Ban quản lí chợ giao thêm việc hằng ngày quét lá dọn chợ. Buổi chiều với chiếc chổi tre dài ngoằng, Trung lùa đẫy những đống rác to đùng chất cao thành đống nhóm lửa đốt. Tàn lửa Trung lại chạy lo sắp đặt ngăn nắp từng dãy bàn ghế, dãy sạp bán hàng tươm tất đâu ra đó, chỗ buôn bán chợ quê mà luôn sạch sẽ, thơm tho.

Thấy Trung làm được việc, ông chủ nhiệm hợp tác xã dịch vụ vệ sinh môi trường nông thôn đánh tiếng muốn gọi Trung về đầu quân cho ông ấy. Hôm gặp Trung gánh hàng ra chợ, chủ nhiệm vỗ vai như chỗ thân tình:

- Chú Trung ạ! Để đạt các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, đòi hỏi chợ búa, đường làng, ngõ xóm phải sạch, phải đẹp. Chú thích chợ ta, làng ta sạch đẹp không!?

Đương nhiên là Trung tắp lự gật đầu.

Thấy dễ sai bảo, ông chủ nhiệm nói tiếp:

- Vậy thì hợp tác xã tạo việc làm cho nhà anh đây. Này nhá. Hằng ngày anh thu gom hết rác ở chợ và đường làng, ngõ xóm gánh về đây nhé. Từ nay, đây là chỗ tập kết  rác thải của chợ với làng ta, và sẽ có xe cơ giới của công ty vệ sinh đến thu gom. Mỗi tháng, anh sẽ nhận được bảy trăm nghìn tiền công. Ok chứ!

Trung có ngờ cái ậm ừ không nói thành lời của mình chính là “hợp đồng kinh tế” lớn nhất đời người được giao kèo kí kết bằng mồm đồng ý nhận việc. Từ ngày ông bà Nuôi mất, chiếc đòn gánh dường như cũng mòn đi theo sức khỏe hao gầy vì rác thải nông thôn ngày càng bộn hơn. Vợ Trung thì vững gánh ấm nước chè xanh chát ngọt sánh vàng như mật thỏa miệng người uống ở chợ. Trong khi đó cha con Trung ngày vài chuyến gom nhặt rác thải sinh hoạt từng hộ dân khắp ngõ xóm đường làng. Lòng Trung buồn vì người quê đi chợ nhà quê bây giờ chẳng mấy ai chịu dùng lá chuối lá dong gói hàng nữa. Chỉ tuyền một thứ là túi ni-lon làm đồ đựng, dùng xong nhiều người vô ý vứt bừa bãi ra đấy để Trung dọn. Mùa lộng gió mênh mang vèo trên đường làng bay rơi lả tả trước sấp ngửa đời Trung.

Chuyến rác cuối chiều đã về tới nơi tập kết. Ngồi nghỉ ngơi trên bến làng Nhân, trong Trung hiện về giấc mơ chợ làng Nhân ngời lên màu ngói mới đình xưa, sông làng Nhân nước trong xanh mát. Chiều buông mặt trời tím phả vào gương mặt tủm tỉm của anh thật hồn hậu. Bất giác Trung đưa tay sờ chỗ cồm cộm trong túi áo ngực mình. Hình như chỗ đó Trung vừa cất bảy trăm nghìn đồng tiền lẻ gom rác một tháng trời nhận được từ hợp tác xã dịch vụ vệ sinh môi trường nông thôn. Vuốt mấy tờ tiền trên tay, Trung nhẩm tính và chia mãi không ra bài toán cho mấy nhân khẩu trong nhà khi bụng đói cồn cào, đôi chân ậm ịch của một tháng chầm chậm trôi về phía trước.

n.m.đ