KỶ NIỆM 40 NĂM THÀNH LẬP HỘI VHNT ĐỒNG NAI
NHỮNG NGÀY ĐẦU ĐẾN HỘI

 

 

Khi tôi chuyển về đóng quân ở Biên Hòa năm 1980 thì Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai vừa được thành lập. Một ngày nọ từ Bệnh viện 7B nơi tôi đang thực tập lên Biên Hòa, đi tới gần tới Ngã ba Vườn Mít, chợt phát hiện ra một biệt thự rất đẹp, có biển đề bằng đồng “Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai”. Trước cửa Hội, trên hàng rào cạnh đường dựng một tấm pa- nô lớn quảng cáo báo Văn nghệ Đồng Nai số mới, tôi thấy những cái tên như Lý Văn Sâm, Hoàng Văn Bổn, Nguyễn Duy Thinh, Vũ Xuân Hương, Hiền An Giang, Chu Diễn Thành, v,v...


img066.jpg
Nhà thơ Đàm Chu Văn (bìa phải) bên các nhà văn lão thành của Hội thời kỳ m
ới thành lậ​p



Tôi mừng húm như vừa phát hiện ra được một miền đất mới. Lúc đó, tôi đã có một số bài thơ đăng trên các báo Quân đội Nhân dân, Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, Đại đoàn kết, Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh,v,v... và có “lưng vốn” hơn 100 bài thơ chép trong sổ tay. Tôi tập tành làm thơ từ khi còn đang học cấp ba. Năm 1974, theo ông bác đi xây ở Thị xã Thái Bình trong khi chờ giấy gọi Đại học, tôi đã thập thò trước cổng Hội Văn học Nghệ thuật Thái Bình và “mạnh dạn” gửi bài đến mấy lần rồi dài cổ chờ đợi mà vẫn bặt vô âm tín. Lần này tôi thấy tự tin hơn vì đã được thử thách trên các báo. Ngày hôm sau, tôi mang mấy bài thơ hăm hở đến gửi. Không gặp được các nhà văn đáng kính, tôi đưa cho một cô gái xinh đẹp gặp ở ngoài sân cơ quan nhờ chuyển dùm. Cô gái ấy sau này tôi mới biết là Ngọc Bích, một diễn viên của Đoàn Ca múa nhạc kịch Đồng Nai lúc đó đến Hội chơi. 

Bẵng đi vài tuần chờ đợi, ước chừng báo đã ra, tôi lại hăm hở đạp xe đến Hội. Vào đến cổng, tôi thấy một ông già trạc ngoài năm mươi, dáng cao gầy dắt xe từ trong đi ra, tôi không kịp chào thì ông đã đi khuất. Vào tầng trệt, thấy rất đông người, rồi một người dáng cũng cao, nhưng còn gầy hơn hai má hõm sâu, trạc ngoài bốn mươi thấy tôi thập thò ngoài cửa vội đi ra. Tôi hỏi: Thưa anh, báo ra chưa ạ? Báo ra rồi, em tên gì vậy? Người đó hỏi. Dạ, em là Đàm Chu Văn ạ! Ồ! Đàm Chu Văn hả, số này Văn có bài đấy, vào đây. Người nọ vồn vã kéo tôi vào trong phòng và đưa cho tôi tờ Văn nghệ Đồng Nai, măng-sét màu xanh, còn thơm mùi mực in. Tôi lật giở nhanh và tìm thấy bài thơ của mình được in ở góc dưới cùng của trang thơ. Đó là bài Hoa rừng. Tôi còn nhớ bài thơ có bốn câu như sau: 

Ôi những chiều tà sẫm máu các anh

Rừng nức nở thốt lên lời vĩnh biệt

Những con người ngã xuống mà không chết

Thành hoa rừng thơm ngát dọc đường đi. 

Lúc đó đang chiến tranh biên giới Tây Nam, tôi viết về những đồng đội đã hy sinh. Tôi hỏi tên và đuợc biết người đang tiếp chuyện tôi là anh Hiền An Giang, thư ký tòa soạn báo. Anh Hiền An Giang khen: Em viết được đấy, tiếp tục gửi bài cho báo nữa nhé. Tôi vâng dạ rồi ra về, lòng vui lâng lâng. Số báo sau tôi lại đuợc đăng hai bài thơ viết cho thiếu nhi. Anh Hiền An Giang nói: “Đến số này thì có người hỏi Đàm Chu Văn là ai rồi đấy, em được chú ý rồi đấy”. Rồi một người dáng tầm thước bước vào, da trắng, hai mắt nhỏ, khuôn mặt nhom nhem những râu nhìn tôi nói: Đây là Đàm Chu Văn hả? À, mà cậu lấy nhuận bút chưa? Dạ, tôi đáp lửng... Thú thực tôi nghĩ chắc cũng có nhuận bút như các báo kia nhưng ngại không hỏi. “Vào đây”- người đó dắt tôi vào phòng hành chính và kêu chị thủ quỹ phát nhuận bút cho tôi, tiện thể tôi nói luôn bài thơ lần trước cũng chưa lấy nhuận bút. Quả nhiên có đủ cả. So với đồng lương chuẩn úy năm tư đồng của tôi lúc đó thì khoản nhuật bút này cũng là đáng kể: mỗi bài thơ được những bốn mươi đồng. 

Dần tôi trở thành cộng tác viên tích cực của báo, bài vở được đăng ngày càng nhiều. Ngày 22 tháng 12 năm 1981, kỷ niệm 2 năm thành lập Hội, mặc dầu chưa phải là hội viên tôi vẫn được mời tham dự. Cảm giác lúc đó là rất vui, thiêng liêng như lần đầu được ngồi với người yêu vậy. Năm đó, tôi là một trong ba tác giả được tặng thưởng của Hội. Phần thưởng là 150 đồng, gấp gần ba lần lương sĩ quan quân đội của tôi. Liên hoan xong còn được tặng vé mời xem phim ở rạp Nam Hà.

 

                                                                 Đàm Chu Văn