KỶ NIỆM 40 NĂM THÀNH LẬP HỘI VHNT ĐỒNG NAI
40 NĂM THÀNH LẬP HỘI: NGỌN LỬA NGHỀ ẤP IU NỒNG ĐƯỢM



     Tháng 12/2019, Hội VHNT Đồng Nai tròn 40 năm thành lập. Nhân dịp này, trang thông tin điện tử của Hội VHNT Đồng Nai tiếp tục trích đăng một số bài viết của các văn nghệ sĩ Đồng Nai...


ĐÀM CHU VĂN

damchu van.JPG
         Nhà thơ Đàm Chu Văn (bìa trái) và một số văn nghệ sĩ Đồng Nai dự tập huấn lý luận phê bình VHNT năm 2017 tại thành phố Cần Thơ

      

     ...Bẵng đi vài tuần chờ đợi, ước chừng báo đã ra, tôi lại hăm hở đạp xe đến Hội. Vào đến cổng, tôi thấy một ông già trạc ngoài năm mươi, dáng cao gầy dắt xe từ trong đi ra, tôi không kịp chào thì ông đã đi khuất. Vào tầng trệt, thấy rất đông người, rồi một người dáng cũng cao, nhưng còn gầy hơn hai má hõm sâu, trạc ngoài bốn mươi thấy tôi thập thò ngoài cửa vội đi ra. Tôi hỏi: Thưa anh, báo ra chưa ạ? Báo ra rồi, em tên gì vậy? Người đó hỏi. Dạ, em là Đàm Chu Văn ạ! Ồ! Đàm Chu Văn hả, số này Văn có bài đấy, vào đây. Người nọ vồn vã kéo tôi vào trong phòng và đưa cho tôi tờ Văn nghệ Đồng Nai, măng-sét màu xanh, còn thơm mùi mực in. Tôi lật giở nhanh và tìm thấy bài thơ của mình được in ở góc dưới cùng của trang thơ. Đó là bài Hoa rừng. Tôi còn nhớ bài thơ có bốn câu như sau: 

Ôi những chiều tà sẫm máu các anh

Rừng nức nở thốt lên lời vĩnh biệt

Những con người ngã xuống mà không chết

Thành hoa rừng thơm ngát dọc đường đi. 

     Lúc đó đang chiến tranh biên giới Tây Nam, tôi viết về những đồng đội đã hy sinh. Tôi hỏi tên và đuợc biết người đang tiếp chuyện tôi là anh Hiền An Giang, thư ký tòa soạn báo. Anh Hiền An Giang khen: Em viết được đấy, tiếp tục gửi bài cho báo nữa nhé. Tôi vâng dạ rồi ra về, lòng vui lâng lâng. Số báo sau tôi lại đuợc đăng hai bài thơ viết cho thiếu nhi. Anh Hiền An Giang nói: “Đến số này thì có người hỏi Đàm Chu Văn là ai rồi đấy, em được chú ý rồi đấy”. 

     Dần tôi trở thành cộng tác viên tích cực của báo, bài vở được đăng ngày càng nhiều. Ngày 22 tháng 12 năm 1981, kỷ niệm 2 năm thành lập Hội, mặc dầu chưa phải là hội viên tôi vẫn được mời tham dự. Cảm giác lúc đó là rất vui, thiêng liêng như lần đầu được ngồi với người yêu vậy. Năm đó, tôi là một trong ba tác giả được tặng thưởng của Hội. Phần thưởng là 150 đồng, gấp gần ba lần lương sĩ quan quân đội của tôi. Liên hoan xong còn được tặng vé mời xem phim ở rạp Nam Hà.



NGUYỄN QUỐC HOÀN

quoc hoan.jpg
Chân dung hội viên Nguyễn Quốc Hoàn



     

      Tôi vốn là một sĩ quan quân đội, thuộc Binh chủng Đặc công. Những trang văn, trang thơ của các vị bậc tiền bối như Bình Nguyên Lộc, Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang, Huỳnh Văn Nghệ, Hoàng Văn Bổn, Hoàng Kim Chung… từng thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và cả máu ngay trên “Mảnh đất ven sông” này để cho ta hôm nay và thế hệ mai sau thừa hưởng, tiếp nối một cách xứng đáng đều nằm trong mạch nguồn ấy.     

     Lối tháng 6 năm 1984, lúc ấy tôi còn ở trong quân ngũ và đóng ở Hà Nội có một chuyến công tác vào miền Nam để gặp gỡ nhân chứng, tìm hiểu những trận đánh tiêu biểu về Đặc công. Điểm dừng chân đầu tiên của tôi là thành phố Biên Hòa – nơi sản sinh ra cách đánh Đặc công từ thời chống Pháp. Một hôm, tôi ghé qua trụ sở Hội Văn nghệ Đồng Nai, chủ yếu gặp gỡ thăm hỏi là chính, còn về văn chương lúc ấy tôi chưa mấy say sưa, hăng hái như những năm sau này. Người đầu tiên tôi được gặp là Thanh Dạ - hình như Thư ký tòa soạn thì phải. Sau khi giao lưu với nhau, biết thêm Thanh Dạ là người Bắc, thuộc cán bộ ngành giáo dục tăng cường cho miền Nam trước giải phóng. Thanh Dạ vui vẻ, cởi mở, có phần tếu táo dù mới gặp nhau mà khoảng cách rất gần. Nhờ cuộc giao du tình cờ này mà anh cho biết Hội Văn nghệ tỉnh sắp mở Trại sáng tác, hướng tới kỷ niệm 10 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/1985). Thanh Dạ ngỏ ý mời tôi tham gia trại. Anh nói một câu rất chân thành gợi mở đầy ấn tượng mà mấy chục năm rồi, tôi vẫn nhớ như in: “Văn nghệ là như chim gọi đàn” và tôi đã nhận lời với Thanh Dạ, ít ngày sau đó nhập cuộc.

     Hôm lễ khai mạc trại tại trụ sở Hội (địa điểm hiện nay) đúng là… vui như hội. Tôi có dịp gặp khá đông các anh bậc thầy nhà văn, nhà thơ tên tuổi: Lý Văn Sâm - Chủ tịch, các phó Chủ tịch: Hoàng Văn Bổn, Hoàng Kim Chung, Xuân Sách cùng một số anh chị khác. Các nhà văn được Hội mời về để trao đổi kinh nghiệm sáng tác như Nguyễn Khải, Chim Trắng, nhà thơ Thu Bồn dân xứ Quảng nói nặng như… đá, dù đã hơn nửa đời xiêu bạt, hầu hết trong số ấy đã từng mặc áo lính. Mặc dầu lần đầu gặp gỡ, nhưng thấy tôi trong bộ quân phục chỉnh tề, ai nấy đều gần gũi, thân mật như quen biết từ lâu. Cũng qua dịp dự trại mà được biết và gần gũi các ông Lý Văn Sâm, Hoàng Văn Bổn, Hoàng Kim Chung hơn. Sau này biết thêm và thân với các anh Thái Hải (Khôi Vũ), Nguyễn Đức Thọ, rồi Xuân Bảo, Đàm Chu Văn, Lê Đăng Kháng v.v…

      Cách mở trại hồi ấy thật nhẹ nhàng, thú vị và thiết thực, trao đổi bản thảo giữa các trại viên, tổ chức theo nhóm, có thầy cùng nghe, góp ý qua lại vỡ ra nhiều điều. Đúng là trại ra trại, ai cũng cảm thấy thích thú. Nhờ dự trại mà tôi có tác phẩm truyện ký đầu tay “Tiếng nổ giữa dòng sông”… 


 


ĐÀO SỸ QUANG

dao sy quang.jpg
Nhà văn Đào Sỹ Quang tác nghiệp tại Ban Chỉ huy quân sự huyện Định Quán


     

     Tôi bắt đầu viết bài gửi đăng báo, chỉ là những tản văn nho nhỏ. Vui sướng lắm. Đêm nằm cho luôn tờ báo có bài của mình ngủ chung. Truyện ngắn “Thoát chết” đầu tay của tôi đăng trên Kiến thức gia đình. Rồi những truyện tiếp theo đăng trên Giáo dục và Thời đại và một số báo và tạp chí văn nghệ khác. Năm 2003, anh Nguyễn Hiếu, giáo viên dạy Văn thỉnh giảng ở trường tôi rủ làm đơn xin vào Hội văn nghệ Đồng Nai. Tôi liền đồng ý, rồi photo một loạt các bài đăng để mong được sự tin tưởng. Anh Hiếu bảo tôi đem đơn đến gặp nhà văn Nguyễn Thái Hải và nhà thơ Đàm Chu Văn xin chữ ký. Anh ấy ghi rõ cho tôi địa chỉ từng người. Thực tình tôi chưa hề biết hai nhà văn, nhà thơ này như thế nào, thôi thì cứ học cụ Đồ Chiểu “xô cửa xông vào liều mình như chẳng có”... 

     Khi là hội viên rồi, tôi chỉ lo mình viết không ra gì thì làm xấu mặt những người giới thiệu. Cho đến hôm nay tôi đã xuất bản được 7 đầu sách và nhận được một số giải thưởng văn học rất đáng khích lệ. Công bằng mà nói, tôi không chỉ biết cảm ơn nhà văn Nguyễn Thái Hải, nhà thơ Đàm Chu Văn, mà còn nhiều nhà văn, nhà thơ khác. Như nhà văn Bùi Quang Tú, nhà văn Lê Đăng Kháng, nhà Văn Phạm Thanh Quang, nhà văn Trần Thu Hằng, nhà văn Hoàng Ngọc Điệp, nhà thơ Lê Thanh Xuân, nhà thơ Nguyễn Xuân Từng, nhà thơ Đỗ Minh Dương, nhà thơ Trần Ngọc Tuấn... Nhiều nhiều nhiều nữa nhà văn nhà thơ trong Hội văn học nghệ thuật Đồng Nai. Họ đã đọc tác phẩm của tôi, khen, chê, động viên góp ý rất chân tình. Với tôi, chỉ biết nói lời biết ơn vô hạn và học tập không ngừng!​

   

     



NGUYỄN HUYỀN QUY

huyen quy.jpg
       Cây bút trẻ Huyền Quy và cô Trần Thị Minh Tâm - một hội viên thời kỳ đầu của Hội VHNT Đồ​ng Nai

     

     Tôi sinh ra từ vùng quê của “chị Hai năm tấn”. 19 tuổi, tôi rời quê lúa đến với vùng đất đỏ miền Đông. Những ngày đầu “Nam tiến”, mọi thứ dường như quá xa lạ với cô nữ sinh vừa hoàn thành chương trình học THPT. Tôi thực sự choáng ngợp trước vẻ hoành tráng của những khu công nghiệp, những nhà máy, xí nghiệp nối dài. Đã quen với cánh đồng thẳng cánh cò bay, trải dài tít tắp, quen với cây đa, giếng nước, sân đình, lần đầu đặt chân đến một “Thành phố công nghiệp”, trong mắt tôi điều gì cũng mới. Với lịch sử hơn 300 năm hình thành và phát triển, Đồng Nai khi đó đã trở thành nơi các doanh nghiệp tìm về hội tụ, Biên Hòa trở thành một địa chỉ uy tín thu hút hàng triệu lao động từ khắp nơi về đây, với hàng chục ngàn doanh nghiệp và hàng ngàn dự án đầu tư nước ngoài. 

     Gia nhập ngôi nhà chung là Hội VHNT Đồng Nai là một bước ngoặt “lịch sử”  lớn lao và đáng kể nhất trong “sự nghiệp” bé tẹo của tôi. Sinh ra trong một gia đình yêu nghệ thuật, suốt ấu thơ, và cả những tháng ngày trưởng thành, tôi lớn lên trong tiếng đàn Mandoline của ông nội, tiếng Tây Ban cầm và tiếng kèn Hacmonica của bố, cùng giọng đọc ấm áp, truyền cảm mà cả nhà đợi mong vào thời khắc cuối ngày phát ra từ chiếc radio tí xíu chạy bằng pin trong chương trình Đọc truyện đêm khuya. Có lẽ vì thế, mà “số phận”, hoàn cảnh “xô đẩy”, đưa tôi đến công tác tại Hội VHNT, để tâm hồn tôi được tiếp tục nuôi dưỡng bằng nghệ thuật. Mỗi ngày, được thưởng thức những tác phẩm thơ ca, nhạc họa, tôi không đơn thuần chỉ là một người yêu nghệ thuật nữa. Tôi viết văn, làm thơ, và cầm máy ảnh tự bao giờ!

     Những ngày đầu về Hội, tôi đảm nhận công việc của một chuyên viên phòng nghiệp vụ, phụ giúp Nghệ sĩ Ưu tú Bích Ngọc tổ chức các trại sáng tác, các cuộc thi VHNT trên địa bàn tỉnh. Theo chân những nhà văn, nhà thơ, những nhạc sĩ, họa sĩ, nhiếp ảnh gia đi tham quan, thực tế sáng tác, tôi bị “lây” cái “máu văn nghệ” tự lúc nào. Từ một nhân viên xuất nhập khẩu, một thông dịch viên mà vốn từ vựng hàng ngày chỉ xoay quanh tờ khai hải quan, phương tiện vận tải, bảo hiểm trong ngoại thương, thủ tục thanh toán quốc tế, bỗng nhiên tôi trở nên hoạt ngôn lạ, xuất khẩu thành… văn vần, có đôi lúc thành thơ luôn, tuy không phải do mình nhất thời ứng phó kịp, nhưng cũng là thơ, văn, ca từ của các nghệ sĩ có tiếng. Chặng đường thay đổi tích cực trong ngôn ngữ giao tiếp của tôi không tính bằng năm, mà là bằng tháng, bằng tuần lễ… Thế nên chẳng có gì là khó hiểu khi nửa năm sau, tôi được lãnh những đồng nhuận bút đầu tiên trong cuộc đời từ bài ký về chuyến đi thăm ngôi trường hơn một trăm năm tuổi của thành phố Biên Hòa - Trường Tiểu học Nguyễn Du...

MAI SƠN (tổng hợp)