CHÀO MỪNG 47 NĂM HÒA BÌNH, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975 - 30/4/2022) - Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh!
NHÀ VĂN TRẦN THÚC HÀ- “MỘT TIẾNG CHIM RỪNG”



         ​(Đọc Một tiếng chim rừng, tập truyện ngắn của Trần Thúc Hà (Nxb Hồng Đức 2020)

 

Bùi Công Thuấn

 

 

 

 

            Nhà văn Trần Thúc Hà là một người lặng lẽ, chân thực. Ông âm thầm viết và bền bỉ theo đuổi những mục đích cao đẹp của văn chương. Ông cho rằng: “… văn chương đi cùng thân phận, khát vọng sống của con người và nâng tâm hồn con người cao đẹp hơn”(tr.65). Đến nay ông đã in: Trăng sáng như băng (tập truyện ngắn 1992), Trên dòng Nhật Lệ (tiểu thuyết 1995), Mỹ nhân cổ (tập truyện ngắn 1998), Bức ảnh (tập truyện ngắn 2003), Nẻo khuất (tập truyện ngắn 2009), Người trầm lặng (tập truyện ngắn 2011), Ánh mắt (tập truyện ngắn 2015), Một tiếng chim rừng (tập truyện ngắn 2020).

             MỘT TIẾNG CHIM RỪNG

            Một tiếng chim rừng” có thể là một ẩn dụ cho ngòi bút của nhà văn Trần Thúc Hà. Đọc tên những tác phẩm của ông, người đọc có thể nhận ra tính cách văn chương mà ông chọn lựa. Ông là “Một người trầm lặng”, là “Một tiếng chim rừng” ở nơi “Nẻo khuất” nhưng ông nhìn đời với “Ánh mắt” thấu suốt bao dung, và dù hiện thực có tăm tối thì tấm lòng của ông vẫn là “Trăng sáng như băng”.

          Trong truyện “Nước mắt và nụ cười” ông kể lại đời viết văn của mình. Ông phân thân thành 2 con người. Một người đọc khách quan đánh giá tác phẩm văn chương của ông. Và ông, với tư cách nhà văn, tự đánh giá những trang văn của mình. Ông soi vào thân tâm bằng sự khiêm tốn, chân thành, tự biết mình theo tinh thần của Socrates (470-339 TCN), và không ảo tưởng.



Trần Thúc Hà-Một tiếng chim rừng.jpg
          Tập truyện ngắn “Một tiếng chim rừng” (ảnh BCT)


Thời kháng chiến chống Pháp, ông dở dang việc học. Ông tham gia kháng chiến và làm liên lạc ở đại đội pháo. Năm 1953 ông được chuyển về đơn vị tải thương và đi chiến dịch Trung Lào. Sáu năm quân ngũ ông chưa “có công gì với núi sông”. Sau đó ông học bổ túc cấp 3 rồi học chụp ảnh để có nghề kiếm sống.

Ông thử cầm bút, bài tùy bút đầu tiêng ông viết về các cô gái trẻ miền trung du quê ông đi hái dâu rừng về làm rượu, được in trên tạo chí Văn nghệ địa phương. Ông rất vui nhưng có người “hắt một thùng nước lạnh vào mặt ông”.

Khi giặc Mỹ mở rộng chiến tranh  ra miền Bắc, thị xã nơi ông ở bị ném bom. Ông vác máy ảnh đi chụp cảnh tàn phá và bị công an bắt, tịch thu máy. Bị giam gần 2 ngày, ông được thả, vì khi tráng phim, công an không thấy có hình ảnh nào!

Chiến tranh trở nên ác liệt, ông trở lại quân đội, làm lính công binh ở một bến phá tuyến lửa Long Đại. Ông bị thương và được phục viên.

Hòa bình, thống nhất. Ngoài 40 tuổi ông lại cầm bút. Hội Văn nghệ tỉnh cho ông đi dự lớp bồi dưỡng viết văn toàn quốc, ông giật mình nhận ra “truyện của ông vẫn nghe chát chúa quá, cái sự thật bên ngoài trần trụi quá, cái Đẹp thiếu vắng(tr.166).


trần thúc hà 2017.jpg Nhà văn Trần Thúc Hà (giữa) nhận giải thưởng cuộc thi sáng tác VHNT “Chào mừng 30 năm Đồng Nai đổi mới” do lãnh đạo Hội VHNT Đồng Nai trao tặng



 Ngoài 60 tuổi ông mới vào Biên Hòa và tiếp tục viết. Với ông, “trước, viết để trò chuyện với mọi người chứ nghĩ gì đầu sách với giải. Mà tất cả bài viết của tôi chỉ chút xíu nho nhỏ lọt vào tai”; “bây giờ viết để đẩy lùi thần chết đang đến gần(tr.173).

Nhà văn Hoàng Ngọc Điệp nhận xét: “Nhưng theo cảm nhận của tôi, truyện ngắn của ông không quá dữ dội, gai góc..., nó giống như tính cách của chính tác giả, kiệm lời, thâm trầm mà sâu sắc. Gấp sách lại người ta còn bần thần ngẫm ngợi, suy tư trước những trang văn đầy biểu cảm và thông điệp mà tác giả nhắn gửi.”[1]

Nhà phê bình Hoàng Thụy Anh nhận xét về tập truyện Ánh mắt của Trần Thúc Hà:Trần Thúc Hà chưa có sự cách tân, đổi mới về kỹ thuật tự sự nhưng giọng văn trầm đều cứ rỉ rả thấm vào lòng, người đọc vẫn say bởi cái tình, cái dư ba nhân văn cũng như sự trăn trở của tác giả trước những đứt gãy của thế cuộc…Có thể xem đây là vụ cuối mùa của một nhà văn đã qua tuổi bát tuần. Một vụ cuối mùa chín, đọng, ám ảnh. Trải nghiệm đắng cay ngọt ngào trong dư ba của tâm hồn, của giọng văn sâu sắc, triết luận”[2]

Tôi ghi nhận ý kiến của hai nhà văn, rằng văn chương của Trần Thúc Hà “thâm trầm mà sâu sắc; một giọng văn sâu sắc triết luận”. Nhưng tôi không nghĩ như vậy.

Tôi thấy sự tự đánh giá của Trần Thúc Hà là điều đặc biệt đáng trân trọng: truyện của ông vẫn nghe chát chúa quá, cái sự thật bên ngoài trần trụi quá, cái Đẹp thiếu vắng(tr.166).

Mấy ai cầm bút mà tự nhận xét văn mình “thiếu vắng cái Đẹp”! Bởi điều ấy đồng nghĩa với thiếu vắng sự sáng tạo nghệ thuật, hay nói cách khác, văn của ông ít tính văn chương. Sáng tạo cái đẹp là yêu cầu tiên quyết khẳng định tài năng và giá trị của một cây bút. Chỉ những nhà văn tài năng, độc đáo, mở ra những con đường mới, cuốn hút nhiều người đi theo, nhà văn ấy mới có thể định vị được sự nghiệp của mình trong dòng chảy văn chương. Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp… là những thí dụ. Văn chương mà “thiếu vắng Cái Đẹp” thì có thể chỉ là “một tiếng chim rừng”“khuất nẻo”. Đúng như một người nào đó đã tạt một thùng nước lạnh vào mặt ông rằng: “Một cánh rừng người ta cũng không rồ như ông khi ông chỉ bằng ngọn lá”(tr. 160).

Riêng ông, ông tin rằng “không có ngọn lá, không có cánh rừng”; “Nhà triệu phú xem một đồng bạc không ra gì. Nhưng người nghèo khó được đồng bạc là cả một niềm vui lớn” (tr.160). Đó là sự tự tin đáng quý trong sáng tạo. Ông khẳng định: “Cầm bút cho ta được nhiều quá, vừa làm giàu cảm xúc vừa cho ta một tâm hồn yêu người và thấy cuộc đời này đáng sống biết bao!(tr.172).

Bản lĩnh ngòi bút của ông là ở sự tư tin này. Ông tự tin cả trong thất bại. Ông kể, có lần viết về một nhân vật lịch sử. Tiểu thuyết không thành công. “Ông biết thiếu tầm, bất tài thì trắng tay. Đó là sự khắc nghiệt của lẽ tự nhiên, không riêng gì về chữ nghĩa. Với ông, thế là một lần trèo đèo lội suối không tới đích, nhưng cũng để lại cho ông một sự luyện tập dẻo dai hơn mà bước tới những dốc đèo phía trước(tr. 172).

 Tôi nghĩ, người viết trẻ có thể tìm thấy nhiều thông điệp từ  cuộc đời cầm bút của ông.

 “Truyện của ông vẫn nghe chát chúa quá, cái sự thật bên ngoài trần trụi quá,”đó là ông tự nhận xét về sự chọn lựa con đường sáng tạo của mình. Ông không chọn cái Đẹp và sáng tạo Cái Đẹp làm mục đích văn chương như Nguyễn Tuân. Ông dùng bút pháp hiện thực để viết về những vấn đề của đời sống đang diễn ra, và qua đó bày tỏ trách nhiệm công dân của một nhà văn. Ông khiêm tốn không nói đến việc “thay đổi một xã hội giả dối và tàn ác” như Thạch Lam. Ông nghiêng về phía Nam Cao ở trách nhiệm người cầm bút. Ông nhìn thẳng vào hiện thực, nói tiếng nói thương yêu của lòng mình với những cảnh đời bất hạnh (Đêm không tiếng bom; Ngọn nồm nam; Đợi tàu; Chuyện tình của tôi), lên tiếng mạnh mẽ với cái xấu, cái ác (Thanh gươm và bức tượng bằng vàng; Động đất) và khẳng định nghĩa tình Việt Nam, khẳng định chân lý lịch sử (Người cận vệ của vua Hàm Nghi; Bạn tôi; Bức thư thứ sáu; Một tiếng chim rừng…).

Thái độ đối mặt với thực tại để làm sáng lên tình người và lẽ phải là thái độ cầm bút đầy dũng cảm, thanh cao và nhân ái. Thái độ này rất khác với nhiều người cầm bút viết văn chương thị trường. Có người hì hục viết chỉ để có tiền (điều này không xấu nhưng không phải là cứu cánh của văn chương). Có người chạy theo thị hiếu bản năng của người đọc (văn chương sex chẳng hạn), họ viết gây sốc để nổi tiếng. Có người dùng bút chọc ngoáy vào những đống hôi thối của xã hội, vào những vết thương nhân thế vì mục đích riêng, có người lặn vào đề tài lịch sử cũ để trốn tránh “đối mặt” với lịch sử đang diễn ra. Đó không phải là thái độ đúng mực của người cầm bút…

Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh đã dùng văn chương làm vũ khí chiến đấu cho sự nghiệp lớn,  các vị không ngại “đối mặt” với kẻ thù, với cái xấu, cái ác. Tôi thấy nhân cách văn chương của Trần Thúc Hà có trong những bóng dáng kỳ vĩ đó của dân tộc.

            Trong truyện Một tiếng chim rừng, ông viết về kẻ thù xâm lược như thế này: “…không thể xóa nhòa sự thật. Vụ Trung Quốc tháng 5 năm 1956 họ chiếm đảo Phú Lâm, đầu năm nay họ lại chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, dù họ đưa ra lắm luận điệu biện bạch thì lịch sử, thế giới vẫn ghi họ là kẻ đánh chiếm của Việt Nam, không thể khác. Đó là sự thật! Và không biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo mà Việt Nam chưa lường trước đối với kẻ láng giềng luôn có ý đồ không tốt suốt cả ngàn năm” (tr.50). Nhân vật Người cận vệ của vua Hàm Nghi đã kiên định đến cùng mục tiêu độc lập cho tổ quốc. Ông nuôi mãi ý chí giết tên phản bội Trương Quang Ngọc, người đã bắt vua Hàm Nghi giao nộp cho giặc Pháp. Sau cùng ông đã giết được Ngọc, cùng nghĩa quân đốt rụi đồn Khe Ve.

 

             MỘT NGÒI BÚT GIÀU PHẨM CHẤT TƯ TƯỞNG

Tôi không có ý nói tác phẩm của Trần Thúc Hà là vượt trội so với thời đại, nhưng những trang văn của Trần Thúc Hà có chút gì đọng lại được trong lòng người đọc. Theo cách ông nói là “chỉ chút xíu nho nhỏ lọt vào tai” thì đó chính là tư tưởng. Nhà văn Hoàng Ngọc Điệp nói ý này: “Gấp sách lại người ta còn bần thần ngẫm ngợi, suy tư trước những trang văn đầy biểu cảm và thông điệp mà tác giả nhắn gửi.”[1] Nhà phê bình Hoàng Thụy Anh thì khẳng định tác phẩm của Trần Thúc Hà là “Trải nghiệm đắng cay ngọt ngào trong dư ba của tâm hồn, của giọng văn sâu sắc, triết luận”[2]

Những tư tưởng gì của Trần Thúc Hà chuyển hóa thành “thông điệp” trong tác phẩm của ông?

Trong truyện Đợi tàu, Thành và đứa con chờ chuyến tàu đón bà “mẹ” vào Nam. Bà là người đã cưu mang anh và vợ (lúc ấy Thành tên là Xệu, còn Lan, vợ anh tên là Lén) khi cả hai còn là những kiếp khổ nhục đến tột cùng, nửa con người, nửa con vật bị giày đạp. Ở nhà ga, vô tình Xệu gặp lại Râu Lé. Râu Lé là người trước kia từng thuê Xệu đánh tên giám đốc, lần khác thuê đốt nhà. Xệu bị bắt. Xệu thề nếu gặp Râu Lé sẽ giết hắn. Bây giờ gặp lại Xệu, Râu Lé biết Xệu chưa quên thù xưa, hắn dùng tiền để xin Xệu bỏ qua chuyện cũ. Tình huống truyện rất căng thẳng và quyết liệt. Nhất là khi Xệu từ chối tiền cùa Râu Lé. Nhưng kết truyện lại thật nhẹ nhàng làm an lòng người đọc. Xệu đã không hành xử như Chí Phèo quyết giết kẻ thù là Bá Kiến. Xệu từ chối tiền của Râu Lé. Anh nói với hắn anh không muốn nhớ chuyện cũ.  Tàu đến, hai cha con Xệu đón bà cụ. Nhìn vợ chồng Xệu hạnh phúc, khấm khá, Bà nói “Trời có mắt”. Cái tư tưởng “Trời có mắt” ấy là minh triết của dân tộc. Không lấy oán báo oán nhưng Tin vào lẽ trời. Người lương thiện sẽ được trời bù đắp cho cái phần bất hạnh họ đã phải chịu.

Truyện Đêm không tiếng bom làm dậy lên cái tình người sâu thẳm, soi sáng lương tri người đọc trước những khát vọng, những oan trái, những thiệt thòi mà một con người lương thiện phải chịu trong chiến tranh. Tôi (nhân vật Sơn) và chị Thanh cùng đơn vị thanh niên xung phong làm công tác mở đường. Bom đạn, chết chóc, hy sinh vô kể. Không ai biết trước được số phận mình. Trong một đêm không tiếng bom, Sơn đã xin chị Thanh một nụ hôn, Sơn nói: “Cả thời đi học cho đến bây giờ chưa có đứa con gái nào làm quen với em nên em chưa hề biết được làn môi nóng bỏng của con gái. Chết đi, em tiếc nuối lắm chị ơi! Chị hãy thương em”(tr.33). Chị Thanh đã cho Sơn nụ hôn đầy tình người ấy. Nhưng không ngờ sau đó, hai người bị kiểm điểm, bị kết tội “hủ hóa”, “Tiểu tư sản sa đọa. Không xứng đáng chiến sĩ thanh niên xung phong”. Trong một trận bom, Sơn bị thương và được chuyển đến quân y. Một năm sau anh mới bình phục. Anh không có tin tức gì của chị Thanh. Sơn được đi học Đại học. Ra trường, Sơn dò hỏi tin tức chị Thanh. Anh được biết vì mang tiếng hủ hóa, mà chị Thanh phải cam chịu sống một mình, không thể lập gia đình. Sơn vô cùng ân hận, anh về gặp và xin lỗi chị. Chị nói, cả hai không có lỗi. Chị thúc giục Sơn lập gia đình, chị mai mối cho. Người thủ trưởng năm xưa đã kiểm điểm hai người, cũng đã đến gặp và xin lỗi chị Thanh. Chị đã bao dung tất cả.

Truyện thể hiện tư tưởng nhân văn đầy tình người. Cái đẹp nở hoa giữa bom đạn sinh tử, giữa những định kiến nặng nề trói buộc, giữa những thiệt thòi cả một đời người âm thầm chịu đựng mà không phiền trách ai. Đó là cái đẹp của lòng bao dung, của một nhân cách rạng ngời và của một bản lĩnh có gốc rẽ rất sâu trong văn hóa dân tộc, mà chỉ những ai kề cận bờ tử sinh mới thấy hết ý nghĩa làm người. Những tư tưởng như thế có sức cảm hóa lòng người và làm triển nở những ý nghĩ tốt đẹp.

Không phải tình cờ truyện Một tiếng chim rừng được đặt làm trung tâm của tác phẩm. Lẽ thường, nhà văn Trần Thúc Hà sẽ lấy truyện Người cận vệ của vua Hàm Nghi làm truyện chủ đề, vì truyện này được chọn là 1 trong 10 truyện ngắn hay của báo Văn Nghệ (HNV) năm 2019. Nhưng Một tiếng chim rừng mới thể hiện tư tưởng, bản lĩnh, và tầm nhìn của ngòi bút Trần Thúc Hà. Tác giả sáng tạo một cuộc nói chuyện giữa hai người ở hai đầu chiến tuyến. Mùa hạ 1974, Trung đội trưởng Hân giải tù binh Biền, một Trung úy Sĩ quan Tâm lý chiến Việt Nam Cộng hòa. Trên đường đi, Biền nói với Hân nhiều điều. Tất nhiên, Hân hiểu rằng Biền đang làm công tác Tâm lý chiến. Nhưng Hân không lấy uy quyền của người “bên thắng cuộc” để áp đảo tư tưởng của Hân, một tù binh. Hân phản bác mạnh mẽ những quan điểm của Biền mà anh cho là sai trái (với quan điểm của Đảng).

Ở đây Trần Thúc Hà tôn trọng sự khác biệt về quan điểm, nhà văn cũng tỏ ra độc lập suy nghĩ theo nhận thức riêng của mình dựa trên sự thật lịch sử.

Có nhiều vấn đề được đặt lại theo quan điểm lịch sử hôm nay, (nếu là trước kia thì truyện này không thể in được). Chẳng hạn vấn đề về mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam, từ việc Trung Quốc ký hiệp định Giơ-ne-vơ đến việc Trung quốc đánh chiếm Hoàng Sa. Biền nói, với hiệp định Giơ-ne-vơ, Trung Quốc đã biến Việt Nam thành phên dậu ngăn chặn Mỹ. “phên dậu vừa chịu ơn vừa chui đầu vào cái vòng kim cô lệ thuộc mà khó có cách gì thoát ra được” (tr.48)…vấn đề là chỗ lãnh đạo Đảng Lao động lúc bấy giờ không đủ kiên quyết, cả nể anh bạn Tàu…họ nắm lấy cơ hội ép Việt Nam trên bàn hội nghị Giơ-ne-vơ chia cắt đất nước làm hai…”. Hân nói: “Những điều anh nói tôi không tin vì chưa được kiểm chứng tính chính xác”(tr.49).

Qua lời nhân vật Biền, Trần Thúc Hà đặt lại vấn đề chiến tranh Việt Nam: “Đổ máu do đâu? Do những chia cắt phương Đông phương Tây. Đấy là sự va chạm của các học thuyết. Những học thuyết chống đối nhau làm điên đảo nhân loại. Tôi nói chúng ta bị cưỡng ép mà sâu xa hơn là từ cái gốc đó mà ra. Vậy thì bên này bên kia chẳng nghĩa lý gì, miễn mau chóng kết thúc ván bài nơi nhân loại chọn xương thịt ta đặt lên bàn làm thí nghiệm, phô diễn sức mạnh và bành trướng! Miền Nam thắng tôi vỗ tay hoan hô. Miền Bắc thống nhất được đất nước tôi vẫy mũ reo hò đón chào, dù sau đó tôi có vô tù vẫn thấy hả dạ…”(tr. 54). Hân nói: “Anh tốt bụng nhưng mất chính kiến!(tr. 55).

Truyện kết thúc bằng việc Hân thức đêm để coi chừng tù binh Biền. Anh không trói Biền lại mà để Biền được tự do khi ngủ. Biền nhận ra lòng tốt của Hân, anh cùng thức với Hân để chia sẻ trách nhiệm, tình người và sự trân trọng Con người của Hân, dù cả hai đang ở hai đầu giới tuyến, hai kẻ thù.

Trần Thúc Hà kết truyện: “Vẳng xa một tiếng chim rừng thánh thót trong đêm”. Câu văn kết truyện đẹp như một tứ thơ tư tưởng. Nơi đây “đất lành chim đậu”, nơi đây chỉ có tình người, tình dân tộc, yêu tự do, hòa bình. Truyện đặt lại những vấn đề lớn, những tư tưởng lớn, đan xen nhau nhưng không tạo ra sự mâu thuẫn thù địch. Đó là tư tưởng về sự khác biệt và tôn trọng sự khác biệt; tư tưởng về sự thật lịch sử vượt lên mọi ngụy biện chính trị; tư tưởng về Con người tự do, Con người nhân ái. Những tư tưởng lớn này có ý nghĩa minh triết giúp soi sáng nhiều góc tối của thực. Hân không trói biền để ngủ, anh nói: “Bom đạn, bao nhiêu nỗi nhọc nhằn đày đọa thân xác con người, một chút an lành trong giấc ngủ mà vẫn còn bị trói buộc, tôi không nỡ! Anh bị trói tôi cũng thấy đau!”. Đó là cái Đẹp tư tưởng làm nên cốt cách ngòi bút Trần Thúc Hà.

Trong tập Một tiếng chim rừng, nhiều truyện có những “tứ” giàu chất thơ và giàu tính tư tưởng như thế. Nếu người đọc để lòng mình lắng xuống thì sẽ dễ dàng cảm nhận được cái ngọt ngào của tình nhân ái, cảm nhận niềm vui về những điều tốt lành nở hoa và sẽ gặp được những cái hòa đồng ngay trong những gì bất đồng. Nói cách khác văn chương Trần Thú Hà có sức nâng trái tim người đọc vượt lên trên những đa đoan của đời sống, những giả trá muôn mặt của mọi thứ kẻ thù, đem đến cái nhìn minh triết cho những vấn đề mù mịt, rối rắm của một thực tại xô bồ phức tạp và đầy cái ác hôm nay (Xin đọc Đêm không tiếng bom, Đợi tàu, Chuyện tình của tôi, Bạn tôi, Động đất, Thanh gươm và bức tượng bằng vàng…)

            MỘT NGÒI BÚT CHÂN THỰC

            Sự chân thực thể hiện ngay ở bút pháp.

Trần Thúc Hà chọn bút pháp hiện thực. Bút pháp này đòi buộc nhà văn phải phản ánh chân thực hiện thực. Mọi sự sáng tạo nghệ thuật không được trái với chân lý hiện thực. Điều này tạo nên độ khả tín của trang văn nhưng cũng trói tay nhà văn. Nhiều truyện trong tập Một tiếng chim rừng như một bút ký. Tính truyện nhạt. Nhà văn chỉ thuật lại những gì trong hiện thực, thuật một cách tự nhiên theo tuyến tính thời gian, không gian. Truyện nghiêng về ghi nhận hiện tượng đời sống. Người đọc không được tác giả dẫn thâm nhập sâu vài hiện tượng để tìm ra bản chất vấn đề.

 Đọc những trang văn chân thực và giàu tình người của nhà văn Trần Thúc Hà, tôi tin rằng những chiêm nghiệm về lẽ thiện mà ông muốn gửi gắm, có thể giúp soi sáng được nhiều điều. Ông viết: “…tôi tin rằng trong cuộc sống của con người luôn có sự công bằng! Sự công bằng ấy như là một vị thánh cao cả thấu hiểu những nỗi bất công, lòng hận thù, đố kỵ và những ghen tuông để khích lệ những ai theo đuổi những điều tốt đẹp không phải trắng tay(tr.151)

Tháng 2 năm 2021

BCT

Ghi chú:

[1] Có một ngọn lửa nhỏ mang tên Trần Thúc Hà

http://www.baodongnai.com.vn/vanhoa/202002/co-mot-ngon-lua-nho-mang-ten-tran-thuc-ha-2989276/index.htm

[2] Bến lòng thao thiết của nhà văn Trần Thúc Hà

https://toquoc.vn/ben-long-thao-thiet-cua-nha-van-tran-thuc-ha-99172117.htm