CHÀO MỪNG 47 NĂM HÒA BÌNH, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975 - 30/4/2022) - Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh!
Bài thơ Bà bán cau - Bối cảnh xã hội và những xu hướng sáng tác thơ ca

 



 

Nói đến sáng tác thơ ca Hunh Văn Ngh, có hàng trăm cách tiếp cn, và cũng có không ít cách kiến gii. Song có l tt c đu có đim chung khi nhìn nhn v ông, đó là mt tâm hn thi nhân Nam b, không ch đích làm nhà thơ mà ly thơ đ nói chuyn đi. Qua di co đ li, sau in thành nhng tp thơ giúp ông đưc trao gii thưng Nhà nưc v VHNT, thơ ca Hunh Văn Ngh ch yếu đưc viết t gia thp niên 1940 tr đi (nhng bài thơ ni tiếng như Nh Bc – 1946, Tiếng quc ca - 1946, Rng nh ngưi đi – 1947, Bên b sông xanh – 1948, Mt Tân Uyên – 1949, Nm m gia rng – 1950…)

Bài thơ Bà bán cau ít được nhắc đến, vì nó được viết từ năm 1935, và không nằm trong mạch sáng tác chính của nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ. Đây là bài thơ hiếm hoi ông viết về mẹ; và qua tìm hiểu của người viết, đây cũng là bài thơ hiếm hoi của thi đàn Việt Nam viết về mẹ trong giai đoạn ấy, đồng thời cũng mang một nét riêng về phong cách, giọng điệu sáng tác. Tôi chú ý đến bài thơ này còn vì một lẽ khác, đó là từ cá tính sáng tạo của Huỳnh Văn Nghệ bộc lộ từ bài thơ Bà bán cau, ta nhìn ra được con đường riêng của tác giả trong bối cảnh đời sống, xã hội lúc ấy (qua cái nhìn nhất quán “Văn học là nhân học” của Macxim Gorki).

bà bán cau- Huỳnh Văn Nghệ .jpg
"Thi t
ướng" Huỳnh Văn Nghệ (ảnh sưu tầm)


Bà bán cau

Nắng hạn đường xa ni chân mây... 

Còn đi đâu, đi mãi hỡi ai ? 

Mặc gánh nặng oằn, hai vai chịu, 

Dưới trời mưa lửa chchau mày. 

 

Mẹ ơi! Cnh ấy dẫu trăm năm, 

Ngàn năm, hay muôn vạn ngàn năm 

Một phút sau này con còn sống 

Cảnh kia còn đốt mãi lòng con. 

 

Con đường xe cong uốn trên đồng khô, 

Xóm làng xa, nắng chang, lim dim ngủ, 

Trời cao, cao vút điểm mây khô, 

Từ giữa trời xanh: nguồn nắng đổ. 

 

Trên đường cát xa thăm thẳm ấy, 

Bà n cau, gánh nặng trên vai oằn, 

Lẹ làng đi, dưới chân cát cháy 

n, dù đâu? Nắng đốt chiếc khăn rằn.

 

Gió bốc khói tung lên cuồn bụi trắng, 

Xóm mờ xa khuất dạng sau rừng tre. 

Mồ hôi chảy vòng quanh đôi má rám 

Bà bán cau bước mãi dưới trưa hè. 

 

Động lòng, bóng cây thầm nhắc nhủ

"Bà má ơi! Ghé gánh nghỉ chân già!" 

Nhưng không nghe, bà cứ đi, đi mãi, 

Nhớ chiều nay, trước ngõ, đám con chờ.

                                    (Tân Uyên 1935)

 

***

Đặt bài thơ Bà n caun cạnh một số bài thơ được sáng tác cùng thời ở nước ta sẽ thấy nhiều điều thú vị.

Bài thơ được viết năm 1935, lúc đó nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ khoảng 21 tuổi, đang làm công chức ở Sở Hỏa xa Đông Dương (Sài Gòn). Lịch sử ghi lại, đến năm 1936, ông mới thực sự tham gia phong trào Đông Dương đại hội, đến năm 1937 được bí mật kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất. Đây là khoảng thời gian ông tham gia làm thơ, viết báo ủng hộ cho cách mạng (bằng tiếng Việt và tiếng Pháp). Như vậy có thể Huỳnh Văn Nghệ có nhiều bài thơ trong giai đoạn ấy chứ không phải một vài bài như ta biết, nhưng về sau chỉ ghi nhận được bài thơ Bà n cau.

Bà bán cau viết về một người mẹ tảo tần buôn bán để lo cho đàn con, quên hết nhng vất vả gian truân trên đường đời. Đây chính là người mẹ của nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ; vì gia cnh nghèo khó, chồng mất sớm (cha Hunh Văn Nghệ là ông Huỳnh Văn Tờn mất năm 1928 vì bị rắn độc cắn), gánh nng gia đình chồng chất lên vai bà. Làm nghề buôn bán nh, những người phụ nữ thời ấy chỉ có đôi chân và chiếc đòn gánh tre “chín rạn hai vai” (chữ của Nguyễn Du) làm phương tiện mưu sinh. Hunh Văn Nghệ sớm trưởng thành và thoát ly gia đình, song qua bài thơ này, ông coi mình vn như một đứa trẻ trong vòng tay bảo bọc của mẹ. Bài thơ vừa tả thực, lại vừa có sự điển hình hóa về “người mẹ cần lao” của thời đại. Cái hay của bài thơ là ít mô tả trực tiếp hình nh người mẹ, mà thông qua hai điểm nhìn để làm nổi bật hình nh ấy. Đó là thông qua cm nhận của người con (điểm nhìn cảm xúc, chquan):

Mẹ ơi! Cnh ấy dẫu trăm năm, 

Ngàn năm, hay muôn vạn ngàn năm 

Một phút sau này con còn sống 

Cảnh kia còn đốt mãi lòng con. 

Bên cạnh đó là điểm nhìn của thực tiễn đời sống, thông qua hình nh đường cát, bóng cây, trời mây v.v… Tác giả mô tả sự đối lập lên đến cực độ: khung cnh xung quanh càng khắc nghiệt, hình nh người mẹ càng âm thầm, lặng lẽ, nhẫn nại (Mồ hôi chảy vòng quanh đôi má rám, bà n cau bước mãi dưới trưa hè). Cảm nhận của tác giả được đẩy lên thành snhân cách hóa, biến cái cây thành mt con người đầy lòng trắc ẩn để thì thầm với người mẹ: "Bà má ơi! Ghé nh nghỉ chân già!" Nhưng vì đàn con, bà vẫn mải miết đi không dám ngừng chân dù chỉ một chút thôi.

Bài thơ được hiểu theo nghĩa thông thường là hình nh một bà mẹ già nặng gánh mưu sinh, đơn độc trên đường dài gió bụi. Cái nghèo, cái khổ, sự chịu thương chịu khó ấy kéo dài triền miên, là hình nh vô cùng quen thuộc, không đổi thay theo tháng ngày (vất vả, gian truân thì cứ kéo dài ra mãi, tác giả chỉ chọn lọc qua hình nh bà mẹ đi bán cau khô mà thôi). Tuy nhiên, cũng có người cho rằng bài thơ là một cách nói ẩn dụ về phong trào cách mạng miền Nam thời bấy giờ: người chiến sĩ cộng sản hoạt động trong vô danh, bí mật; phải chịu vô vàn gian khổ, hiểm nguy nhưng vẫn không sờn lòng. Ngay cả tình huống cuối bài thơ cũng gợi ý một vấn đề rất sâu sắc, đó là người cộng sản ấy từ chối những lối rẽ dù chỉ để tạm yên thân. Bởi trong lòng họ có một nhiệm vụ thường trực:

Nhưng không nghe, bà cứ đi, đi mãi, 

Nhớ chiều nay, trước ngõ, đám con ch

“Đám con chờ” chính là những thế hệ cần lao, những người cùng khổ chưa được kết nối với phong trào cách mạng. Đây cũng là một cách hiểu rất hợp lý đối với bối cnh xã hội lúc bấy giờ và cả người viết nên bài thơ – nhà cách mạng trẻ mang tên Huỳnh Văn Nghệ. Dẫu hiểu theo cách nào thì ta cũng có thể thấy tầm nhìn, sức khái quát trong thơ của ông rất sâu, rất rộng; cái nhìn về con người, về đời sống hoàn toàn không bi lụy, bế tắc mà rất mạnh mẽ, lạc quan. Qua hình nh người mẹ với những bước đi lầm lũi ấy là cả một sứ mệnh, một sức mạnh tiềm tàng và tình yêu cuộc sống, gia đình mãnh liệt. Về mặt nghệ thuật, tuy ngôn ngữ thơ là tả thực, nhưng là ngôn ngữ của hội họa với những chiều kích xa rộng, khoáng đạt mà ta sẽ thấy lại trong nhiều bài thơ khác của ông.

(ví dụ trong bài thơ Mộng làm thơ có đoạn:

Chàng chỉ muốn làm thơ bằng máu 

Trên mây hồng cho gió rải cùng trời 

Để những người đau khổ khắp nơi nơi 

Ngừng than thở 

Và thương nhau khi trông hàng chữ máu

***

Cũng năm 1935, nhà thơ Hàn Mặc Tử với bút danh Lệ Thanh có bài thơ Tuồng đời:

Tuồng đời lăng lố vẽ nên "phông" 

Mới mọc râu trê, nó tưởng ông 

Xừ ấy đóng vai cười vỡ bụng 

Thằng kia lên mặt giận tràn hông 

Khi xưa "cái kiếc" nay tri huyện, 

Vừa mới "lon ton"đã hội đồng! 

Xuất xứ công danh nhiều lối thiệt 

Ai đời mua tước dễ như không                

                                    (báo Công luận, số ngày 23/3/1935)

Đây là một bài thơ hiếm hoi tìm lại được của Lệ Thanh - Hàn Mặc Tử; được thi sĩ viết theo thể thơ Đường, lại là bài thơ có tính trào lộng, đả kích xã hội. Xin nói rõ thêm về hoàn cảnh của bài thơ “Tuồng đời” này, nó được viết tại Sài Gòn khi Hàn Mặc Tử phụ trách trang thơ của báo Công Luận, là giai đoạn chưa có “thơ điên”; ông vn chưa biết cơ thể mình mắc bệnh phong mà vẫn là công chức của Sở đạc điền (Sài Gòn). Đồng thời đây là giai đoạn Hàn Mặc Tử có quan hệ rất thân thiết với Phan Bội Châu và một số chí sĩ yêu nước khác. Không cần phân tích nhiu chúng ta cũng thấy được cách chơi chữ và hiện thực quan trường trong bài thơ “Tuồng đời” nêu trên, thể hiện tư tưởng đả phá công danh, coi vinh hoa như một trò tuồng lố. Tuy nhiên, bên cạnh “Tuồng đời”, các nhà nghiên cứu còn tìm được trên báo Công luận một số bài thơ Đường khác của Hàn Mặc Tử lại thiên về vịnh cảnh, thể hiện những mộng mơ yêu đương thoát tục. Điều này cho thấy hướng đi tiếp theo của nhà thơ, khi số mệnh an bài rằng ông mắc bệnh phong nan y, phải trở về quê trị bệnh và bắt đầu làm thơ theo chủ nghĩa lãng mạn như cái “thú đau thương” của riêng mình.

Cùng rất trẻ tuổi (Hàn Mặc Tử sinh 1912, Hunh Văn Nghệ sinh 1914), cùng là công chức làm việc tại Sài Gòn và viết văn, làm báo để bày tỏ quan điểm về đời sống của mình; nếu đặt hai bài thơ Bà bán cau và Tuồng đời bên cạnh nhau thì chúng ta có thể thấy thêm một nét tương đồng nữa: đó là hiện thực xã hội. Qua góc nhìn của Lệ Thanh - Hàn Mặc Tử là chán ghét thói hãnh tiến mua quan bán tước; qua góc nhìn của Huỳnh Văn Nghệ là niềm thương cảm sự nghèo khổ truân chuyên của người dân thường buôn gánh bán bưng. Hai bài thơ đều thể hiện tư tưởng tiến bộ của tác giả và những hồn thơ lành mnh, có ch nhìn khái quát cao. Tuy nhiên, hoàn cảnh xã hội đã tạo ra những cuộc đời hoàn toàn khác nhau, khi Hunh Văn Nghệ tiếp tục tiến sâu hơn vào con đường tranh đấu trực diện, dần trở thành một người chiến sĩ cộng sản chân chính khi ông bị phát hiện, bị bắt phải trốn sang Thái Lan (tiếp tục làm báo, kêu gọi cộng đồng yêu nước đấu tranh). Hàn Mặc Tử tuy cuộc sống lâm vào sự bế tắc, phải dừng bước đi của một con người xã hội, nhưng lại tỏa sáng với thơ, trong một khoảng thời gian khá ngắn ngủi (ông mất năm 1940).

***

Một bài thơ của Thế Lữ - Nhớ rừng, cũng được sáng tác cùng giai đoạn với bài thơ Bà bán cau. Xin không dẫn ra toàn bài, mà chỉ nhc lại sự hùng tráng trong câu chữ, thể hiện khí phách ngang tàng đầy căm hận của một nhân cách, một sinh thể đầy tự trọng trong xã hội đương thời (lời ca con hổ bị nht trong vườn Bách thú). Bài thơ được đề tặng cho Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh), mt nhà n, nhà báo nổi tiếng của Tự lực văn đoàn, sau trở thành một người làm chính trị theo Quốc dân đảng rồi trở về làm Bộ trưởng Ngoại giao trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến; nhưng lại kết thúc cuộc đời bằng rượu độc vì muốn bảo vệ chính kiến riêng của mình… Nói hơi dài về người được đề tặng bài thơ để thấy được mối liên hệ của nhà thơ Thế Lữ với thời cuộc; chứng tỏ một điều nhng nhà thơ trẻ thời đó không hề xa rời xã hội, bằng nhiều cách họ thể hiện chính kiến của mình, góp tiếng nói của mình muốn thay đổi thực tại nhiều điều nhiu nhương, đau khổ. Đó là giai đoạn cách mạng chưa chín muồi, chưa thấy rõ hướng đi của dân tộc nên tiếng nói đấu tranh ca nhà thơ chủ yếu là thể hiện cái Tôi của mình trước thực tại mà họ thấy, họ sống, họ cảm nhận được. Ở bài thơ Nhớ rừng là sự mong mỏi được dùng đến sức mạnh, tài trí còn tiềm tàng trong chính mình:

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu, 

Ghét những cảnh không đời nào thay đổi, 

…Có biết chăng trong những ngày ngao ngán, 

Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn 

Cũng xin nói thêm về tác giả Thế Lữ: Ông viết Nhớ rừng năm 1934, bài thơ nằm trong tập “Mấy vần thơ” xuất bản năm 1935. Nhưng những sự uất ức, ngao ngán và giấc mộng phi thường của nhà thơ dường như vẫn treo lơ lửng trên thi đàn, khi lớp nghệ sĩ trẻ đầy ước vọng như ông vn chưa thấy con đường thực sự dành cho mình. Vẫn viết báo, viết kịch, làm thơ, nhưng phải đến năm 1945, Thế Lữ mới thực sự hòa mình vào đời sống nhờ có Cách mạng tháng 8, nhờ bản Luận cương văn hóa 1943 với những luận điểm tiến bộ, nhân văn của Đảng.

Cũng khoảng năm 1935, cái tên nữ sĩ Mộng Sơn xuất hiện với vai trò là người phụ nữ đầu tiên tham gia phê bình văn học. Bà sinh năm 1916, mất năm 1992, quê ở Nam Định, được chú ý từ bài thơ Viếng mồ lữ khách. Sau năm 1945, bà trở thành biên tập viên của Nhà xuất bản Văn học, và cũng tiếp tục sáng tác  Sáng tác trước năm 1945 của bà không còn nhiều, song có thể thấy được một hồn thơ nhạy cảm, nhiều mơ mộng

Chim lẫn ngàn xanh (trích)

Năm xưa ta bước lên ngàn

Gặp cô gái núi dưới làn mây đông

Hoa tươi đượm giọt sương hồng,

Chim muôn tiếng hót bên lòng "yêu đương"

Trái tim hòa điệu Nghê thường,

Bây giờ nàng đã trên đường ruổi dong.

Hoa bay dưới ánh chiều đông,

Lá cây hiu hắt lặng trông mây trời.

-Thiết tha ta gọi "Em ơi!"

Song miền sơn dã vắng người yêu thương

Lạnh lùng lá rụng bên đường,

Trả lời ta gọi, chim buông tiếng sầu!

Trời đông gió lạnh nhắc câu...

Ta đi hàn vết thương đau trong lòng.

Nhưng đường xa tít vô cùng…

Ngàn xanh chim lẫn mịt mùng thấy đâu?

                                    (Văn học Tạp chí tập mới số 9, ra ngày 13/7/1935)

Với Nguyễn Nhược Pháp, bài thơ Chùa Hương viết năm 1935 của ông là một mối tình thơ tuyệt đẹp:

Em tuy mới mười lăm 

Mà đã lắm người thăm 

Nhờ mối mai đưa tiếng, 

Khen tươi như trăng rằm. 

Nhưng em chưa lấy ai, 

Vì thầy bảo người mai 

Rằng em còn bé lắm, 

(Ý đợi người tài trai).

… Đường đây kia lên giời, 

Ta bước tựa vai cười. 

Yêu nhau, yêu nhau mãi! 

Đi, ta đi, chàng ôi! 

Ngun ngút khói hương vàng, 

Say trong giấc mơ màng 

Em cầu xin Giời Phật 

Sao cho em lấy chàng

Thơ Nguyễn Nhược Pháp là một sự “thoát tục” khi ông hoàn toàn cách ly với xã hội đương thời và giữ cho mình một đời sống riêng, một giá trị tinh thần riêng. Cái nhìn của ông thuần khiết, trong veo, được viết thành thơ qua những câu chuyện tương tự như Chùa Hương (trước tác của Nguyễn Nhược Pháp rất ít, vỏn vẹn khoảng 10 bài). Hoài Thanh và Hoài Chân viết trong Thi nhân Việt Nam: “Đọc thơ Nguyễn Nhược Pháp, lúc nào hình như cũng thoáng thấy bóng một người đương khúc khích cười. Nhưng cái cười của Nguyễn Nhược Pháp khác xa những lối bông lơn, khó chịu của các ông tú, từ Tú SuấtTú Xương, đến Tú Mỡ. Nó hiền lành và thanh tao.Nội chừng ấy có lẽ cũng đủ cho nó có một địa vị trên thi đàn. Nhưng còn có điều này nữa mới thật quý: với Nguyễn Nhược Pháp nụ cười trên miệng bao giờ cũng kèm theo một ít cảm động trong lòng." 

Nguyễn Nhược Pháp mất năm 1938 khi mới 24 tuổi vì lao phổi, sau một loạt cái chết của người thân, để lại giấc mộng hoa niên còn dang dở và rất nhiều nuối tiếc của người đời. Trường hợp Nguyễn Nhược Pháp, nếu so sánh với Huỳnh Văn Nghệ và cụ thể là bài thơ Bà bán cau thì thấy được sự khác biệt trong hoàn cảnh đời sống cũng như văn hóa tinh thần. Bởi giữa hai người tuy cùng một thời đại, song Nguyễn  Nhược Pháp lớn lên trong khoa cử, không có cái đau đáu vận đời; còn Huỳnh Văn Nghệ thì không hẳn là không có i tinh thần u nhã, nỗi bi cảm cái đẹp, song ông phải kìm lòng lại để cống hiến đời mình cho sứ mệnh lớn lao hơn:

Tôi là người lăn lóc trên đường trần 

Không phân biệt lúc mài gươm múa bút

Đời chiến sĩ máu hoà lệ mực

Còn yêu thương là chiến đấu không thôi

Suốt một đời gươm chẳng ráo mồ hôi

Thì không lẽ bút phải chờ kiếp khác

                                    (Bên bờ sông xanh, Chiến khu Đ – 1948)

Xin chọn thêm một ví dụ nữa về thơ được viết cùng thời điểm năm 1935. Đó là bài thơ nổi tiếng của Phạm Huy Thông - Tiếng địch sông Ô. Bài thơ rất dài, nói về tâm sự của Sở Bá Vương và nàng Ngu Cơ trong đêm chia biệt. Đây là những câu nói của Sở vương:

Nhng chiến thng tưng bng, nhng vinh quang rc r! 

Ôi! Nhng võ công oanh lit chn sa trưng! 

Nhng bui tung hoành, lăn ln trong rng thương! 

Nhng tưng dũng b đu văng trưc trn...! 

Nhưng, than ôi! Vn tri khi đã tn, 

Sc "lay thành, nhi" mà làm chi? 

Ri bun ru, Vương t cho nàng nghe 

Hy vng cui cùng trong tim Vương còn sót li, 

Ri Vương nói: - "Nhưng đau lòng ta biết my! 

Ngay đêm nay, ta phi quyết... bit ái khanh 

Thì, nàng ôi, vic ln mi mong thành. 

Nhưng ri nàng, ôi... ri nàng, ta đâu n...? 

mang nàng xông pha trong mưa l

Trùng vi kia ta thoát khi làm sao?"

Và nàng Ngu Cơ đáp li:

Còn dùng dng chi na, đi đi thôi! 

Kìa! Th ơ, trăng m đang chênh chếch... 

Còn ngi đó mà nghe chi tiếng đch, 

Cho chí đy dn cn trong tim đau. 

Đng nghe! Đng nghe na! Hãy đi mau! 

Nghe làm chi tiếng tre đng than ai oán, 

Khúc bi ca nng n và đòi đon, 

Đy nhng li thương tiếc điu thê lương. 

Quân vương ôi! Mau sa son lên đưng, 

Lên đưng xa nơi mơ màng sương ph... 

Nào đâu trái tim xưa? Nào đâu tâm hn cũ? 

Lãnh truân chuyên xin gng gi chí bình sinh, 

Khách anh hào chi xá k ni điêu linh, 

Ngày gian lao vi quãng đưng khe kht?...

                                                (Hà Ni báo, s 2, 8-1-1936)

Phm Huy Thông cũng là mt nhà văn, hc gi, chính tr gia xut sc, có nhiu đóng góp cho nn văn hóa Vit Nam, và đã nhn gii thưng H Chí Minh v nghiên cu văn hóa. Ông sinh năm 1916, vi Tiếng đch sông Ô, nhà thơ viết đ t ni lòng mình và lãng mn hóa mt bi kch chiến tranh. Qua lý gii bng thơ ca ông, sc mnh ca ngưi anh hùng có đưc là nh tình yêu, nh s chuyn hóa đau thương thành “s vô cm” lnh lùng khi mt ngưi yêu và đi din vi quân thù. Đon cui bài thơ đã vưt qua đưc nhng trúc trc ngôn ng qua din tnh cm, tâm lý nhân vt; đ tr v đúng nghĩa là thơ tr tình hin đi.

***

Tr li vi bài thơ Bà bán cau ca Hunh Văn Ngh, đây chưa phi là bài thơ đưc trau chut và phn ánh đúng phong cách sáng tác ca nhà thơ. Nói cho đúng hơn, có l tác gi vn còn hoài nghi tài thơ ca mình, ch dùng thơ đ tâm tình, t bày tình cm vi mnh mt cách chân thành. Cũng trong bài thơ, ta có th thy hình nh ngưi m to tn mưa nng, lm lũi hy sinh, trong khi đàn con đưc mô t là “lũ con thơ”. Tác gi nói v m, nói vi m (nhưng không dám trc din) như chưa th hiu thu tm lòng ca m. Vì vy, đây chưa phi là “lp ngôn” ca Hunh Văn Ngh v cuc đi, v cách mng đang là mi quan tâm rt ln ca ông. Khong t năm 1940 tr đi, nhng bài thơ ca ông mi rõ rt là thơ đ tranh đu, đ nói vi đng đi, vi quê hương, núi sông, ging nòi…

Đó là li khng đnh v s thng nht non sông thông qua hình tưng con sông Đng Nai:

…Đng Nai sông nưc anh hùng. 

Ngun xa, xa tn núi rng hoang vu. 

L tiên kết đng h sâu 

Còn mơ cao rng nh màu gió trăng 

Xông pha vưt núi băng ngàn, 

Gp Là Ngà nghĩa bn vàng kết đôi 

Th: "Dù trc tr núi đ

Cũng liu sng thác tìm tri t do..." 

                                    (Sông Đng Nai – 1940)

Đó là tiếng hát thng li, hoà bình, tin tưng dành cho ngưi m Vit Nam - hin thân ca quê hương đt nưc:

…Gp thi lon, m pht c khi nghĩa 

By con ngoan đng dy dit quân thù. 

Lũ cưp nưc đã bao phen khiếp vía 

Tr v quê không ra kp máu đu. 

Nay gic Pháp li mang đu tr li. 

Dù tm vông phi chi vi xe tăng 

M vng tin nơi by con trung hiế

Ngày mai đây dit chúng cu giang sơn. 

Ri Vit Nam ca rng vàng bin b

Ca bình yên sáng ln tiếng chim quyên 

S nguyên vn, m nghe chăng khúc hát 

Khi hoàn ca tng nhp đã vang lên

                                    (Bà m Vit Nam -Chiến khu Đ, cui 1946)

Đó là li ca ngi dành cho đt nưc nói chung và quê nhà Tân Uyên nói riêng ca tác gi:

Bao ngày gian kh 

Hng trăm năm tranh đu vi núi rng 

M hôi, nưc mt, tay sưng 

Mi có đưc góc tri Nam tươi mát 

Đng lúa thơm, vưn bưi đưng, cam m

Tiếng tr thơ cưi hát sân trưng, 

Hi chuông chùa êm gõ sưn non 

i tranh vàng khói cơm chiu quyến luyến. 

Thuyn dưi bến dp dìu bum cánh én. 

Xe trên đưng lng kng nhc nga vang. 

Ôi! Tân Uyên quê m đp muôn vàn.

                                                (Lch s quê hương - Bc Sơn 1954)

T Bà bán cau, ngưi m ca chính nhà thơ - chiến sĩ Hunh Văn Ngh, cuc đi và thơ ca ca ông đã tìm thy ngưi m Vit Nam vĩ đi và bao dung. Vi cái nhìn cao rng và bn lĩnh ca mình, thơ ch là mt phương tin biu đt tư tưng, tâm hn ca ông, bày t tình yêu vô hn ca ông dành cho quê hương, đt nưc. Bà bán cau không phi là mt bài thơ tiêu biu, xut sc ca Hunh Văn Ngh, nhưng li đ li cho ngưi viết nhiu n tưng sâu đm v c thơ ca ln cuc đi ca mt ngưi đưc nhân dân, đc bit là ngưi Nam b gi là “Thi tưng”!

 

 Trần Thu Hằng​