CHÀO MỪNG 47 NĂM HÒA BÌNH, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975 - 30/4/2022) - Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh!
ĐỌC THƠ THIỀN CỦA TRẦN NGỌC TUẤN


 Nhà phê bình bùi công thuấn

 (Tạp chí Văn nghệ Đồng Nai số 44)



bia Chân thân - 18.11.2021.jpg
(Đọc tập thơ Chân Thân của Trần Ngọc Tuấn - NXB Hội Nhà văn 2018)

 

Ngọn nguồn của thơ Thiền Việt Nam là thơ Thiền thời Lý - Trần, Trần Ngọc Tuấn lại làm thơ giữa thời toàn cầu hóa, nên thơ Thiền của anh có nhiều cái riêng. Trần Ngọc Tuấn đã in Suối reo (2006), Hiện hữu (2013) và Chân thân (2018). Đó là những đóng góp giá trị vào những nỗ lực cách tân suốt mấy chục năm qua của thơ ca Việt Nam đương đại.

THƠ CỦA NGƯỜI HÀNH THIỀN

Nếu không phải là một Hành giả (người thực hành Thiền) thì không thể làm thơ Thiền. Thiền vừa là “trí huệ” vừa là “tâm Bát Nhã”. Nói đến Thiền là nói đến Tâm (Tâm tức Phật/ Phật tức Tâm), là nỗ lực hàng phục Tâm và an trụ Tâm (Kinh Kim Cang). Bởi vì “Vạn pháp do Tâm” (Kinh Hoa Nghiêm).

Đọc thơ Trần Ngọc Tuấn, người đọc nhận ra anh hành Thiền theo Tịnh Độ Tông. Mở đầu tập Suối reo, Trần Ngọc Tuấn có bài thơ diễn tả trạng thái hành thiền rất tuyệt của anh. Đó là một trạng thái trong veo, thanh khiết, đầy sức sống, trong một cảnh giới mà con người đã vượt thoát để an nhiên trong vạn vật. Đó là trạng thái “Pháp giới tánh với tâm là một, Vạn pháp đồng nhất thể” (Kinh Hoa Nghiêm)

Sáng nay lên đồi Tịnh Độ

Giọt sương tan trên lá xanh

Trưa nay lên đồi Tịnh Độ

Nghe cây chuyển nhựa lên cành

 

Chiều nay lên đồi Tịnh Độ

Mây vàng từng áng mong manh

 

Tối nay lên đồi Tịnh Độ

Trăng non đầu núi an lành

(Suối reo - Lên đồi Tịnh Độ)

Và đây là niềm hoan hỷ của Trần Ngọc Tuấn trên đường hành Thiền trong tập thơ Chân Thân

Chợt lòng

Tín giải

Vui sao

Như chàng cùng tử

Được trao gia tài

(Chân thân - Tín giải)

Niềm hỷ hoan của Trần Ngọc Tuấn khi xác tín được chân lý Thiền cũng giống như niềm vui của chàng cùng tử trong Kinh Pháp Hoa.

Truyện kể rằng: Chàng cùng tử rất nghèo, tha phương cầu thực mấy chục năm. Tình cờ anh trở về quê, không biết gốc tích của gia đình mình. Cha anh mấy chục năm thương xót, dõi tìm con nhưng không thấy. Hôm ấy, chàng cùng tử tình cờ đi tới nhà người giàu (cha anh) để xin làm thuê. Ông nhà giàu nhận ra ngay đứa con ông đang tìm, còn chàng cùng tử thấy sự giàu sang thì sợ và bỏ chạy. Anh bị ông chủ bắt lại, sau đó được trả tự do và đi làm chỗ khác. Ông nhà giàu đến chỗ anh làm thuê, gặp gỡ trò chuyện rồi nhận anh làm con nuôi, giữ bí mật cha con với anh. Đến khi ông lâm bệnh, biết mình không qua khỏi, ông quyết định nói sự thật cho con. Chàng cùng khổ vô cùng hạnh phúc. Anh không ngờ mình là con của một người quyền quý và giàu có như vậy.

Niềm hạnh phúc của chàng cùng tử giống hạnh phúc của muôn chúng sinh giây phút Phật thuyết kinh Pháp Hoa, nói cho biết ai cũng đều có thể thành Phật được[1]. Nhưng điều kỳ diệu là Trần Ngọc Tuấn lại cảm nhận được niềm hạnh phúc ấy khi lòng anh “Tín giải” những chân lý của Phật ngay trong thời đại này (rất khác với thờ Phật thuyết kinh Pháp Hoa).

 Người hành thiền Tịnh Độ phải thực hiện 3 giới luật lớn: Tín, Nguyện và Hành. Tín là tin Phật, tin Pháp và tin mình. Nguyện là mong muốn thực hiện những điều chân chính (như 48 đại nguyện của Phật A Di Đà). Hành là chuyên tâm niệm Phật cầu được vãng sanh vào cõi Cực lạc của Phật A Di Đà. Hành giả Trần Ngọc Tuấn đã đắm mình trong cõi Thiền ấy.

Quanh đây/ Quyến thuộc Bồ đề

Tám phương trăng sáng/ Bốn bề hoa thơm

(Miền Tịnh Độ)

Trong Chân Thân, Trần Ngọc Tuấn trăn trở về quá trình hành Thiền của mình, thể hiện nhiều trạng thái trải nghiệm tâm linh như dấu chỉ của hạnh ngộ. Thơ Thiền thường là diệu âm (tiếng tâm linh) trong khoảnh khắc đốn ngộ của hành giả. Những bài trực tiếp nói đến Phật, Pháp có nhiều đặc điểm của Kệ (một thể loại Thiền sư dùng để Thị đệ tử về Phật).

Trần Ngọc Tuấn tra hỏi về Chân thân tức là nỗ lực trí tuệ nhận thức về bản thể của tồn tại, về Tự tánh của vạn pháp, nhưng anh bế tắc:

Người trong gương có phải mình

Hay là ảo ảnh hiện hình chân thân

(Chân thân)

Tra hỏi như thế là chạm đến cốt tủy của tư tưởng Phật. Sự tồn tại của bản thân (thân xác, bản ngã, tử - sinh, có – không) là thật hay là ảo ảnh? Sự tồn tại của mọi vật ta nhìn thấy, của cả vũ trụ này, là thật hay cũng là ảo ảnh?

Ý tưởng này được Tổ sư Long Thọ (Nagajuna) diễn giải rất sâu sắc:

“Nếu pháp nhân duyên sanh,

Pháp ấy, tánh thật không.

Nếu pháp ấy chẳng không,

Không từ nhân duyên có..”

Thầy Thích Hạnh Bình giải thích: “Long Thọ đã lấy bóng trong gương thuyết minh các pháp là duyên khởi tính. Cái bóng trong gương ấy, không phải do gương hay do mặt tạo ra, không phải người làm gương tạo ra, không phải do mình tạo ra, cũng không phải do người khác tạo ra. Sở dĩ cái “bóng” có trong gư?ng l? do t?t c? nh?ng?y?u t??n?y hơng là do tất cả những yếu tố này hình thành, nếu thiếu một trong những yếu tố đó thì “bóng” ấy không xuất hiện. Như vậy, cái “bóng” là do nhân duyên tạo thành. Cái gì do nhân duyên tạo thành, không làm chủ, thì cái ấy mang tính vô thường”[2]

 Người hành Thiền phải vượt qua vô thường, mới “vô ngã vô ưu” (không còn cái Ta thì không đau khổ). Trần Ngọc Tuấn khám phá những tư tưởng này bằng nhiều tứ thơ rất thuyết phục:

Vượt qua/ Đường hiểm/ Oan sai

Tự do/ Sải cánh/ Chim bay/ Giữa trời

(Vượt thoát)

Vui gì mấy đóa hoa rơi

Mấy thân mục rữa, mấy lời ngoa ngôn

Về ngồi giữa đỉnh núi non

Nghe tâm thanh lọc mất - còn, có - không

(Giữa núi)

Giã từ gánh nặng sân si

Dứt tình tham ái từ bi dâng tràn

Chỉ còn tâm thức nhẹ nhàng

Lặng trong cõi tịnh, niết bàn, chân như

(Điều còn lại)

Con đường trung đạo là tu tập theo Bát chánh đạo. Khi đã đi con đường trung đạo, Hành giả đạt đến niềm hạnh phúc an nhiên:

Một mình/ Một núi Thiên Thai

Gương sen soi sáng/ Sương mai/ An lành

(Trên núi Thiên Thai)

Núi Thiên Thai là nơi Trí Khải Thiền sư tu tập (năm 575 đời Trần Tuyên Đế - Trung Quốc). Nhắc đến núi Thiên Thai, tôi chia sẻ được niềm vui của Hành giả Trần Ngọc Tuấn trải khắp không gian - thời gian:

Trên tay/ Một đóa sen hồng

Hương tâm/ Dịu nỗi có - không kiếp người

(Hương tâm)

Không chấp người/ Không chấp ta

Rừng hoang/ Thu vắng/ Vào ra nhẹ nhàng

(Vô chấp)

Thong dong/ Một chiếc thuyền không

Mặc thu vàng lá/ Mặc đông buốt chiều

(Thuyền không)

Ngôi nhà bên suối/ Tịch liêu

Một vầng trăng sáng /Thương yêu bên thềm

(Về)

Cái Tâm trong những bài thơ trên đã rất “an lành thơm tho” và “sáng bừng lên” niềm vui đầy hào quang Thiền, không còn là “cái Tâm sai biệt”. Tôi đặc biệt chú ý những bài thơ Trần Ngọc Tuấn hướng về tha nhân. Những bài thơ này có sức lay động sâu xa lòng người và chứa đựng sự mầu nhiệm của tư tưởng Thiền. Thơ Trần Ngọc Tuấn trở nên rất lạ, rất mới thể hiện cái bao la từ bi Phật:

Đi trong/ Hoang vắng/ Khô cằn

Thương cho cây cỏ/ Nhọc nhằn tử sinh

(Thương)

Cây thối rễ/ Còn mong gì/ Hoa lá

Tội nghiệp người/ Ngồi nhớ/ Thuở còn xanh

(Vô thường)

Vãn tuồng/ Màn khép/ Rèm buông

Lơ ngơ đào kép/ Buồn buồn xướng ca

(Thấy)

Phải chăng đó là tâm nguyện của Phật A Di Đà, ngài có 48 lời nguyện khi ở lại cõi nhân gian để cứu độ chúng sinh?

TRẦN NGỌC TUẤN – NHÀ THƠ TÀI HOA

Thiền chỉ là tư tưởng trong thơ Trần Ngọc Tuấn, và nhà thơ có phải là người hành Thiền (Hành giả) hay không, điều ấy không quan trọng. Vấn đề là người làm thơ có viết được những bài thơ hay, độc đáo về tứ hay không?

Nhưng để đọc những bài thơ Thiền của Trần Ngọc Tuấn, người đọc không thể tiếp nhận thơ như một văn bản nghệ thuật bình thường. Thơ Trần Ngọc Tuấn có nhiều tri thức, thuật ngữ Phật học, chứa đựng cốt tủy tư tưởng Phật trong các Kinh văn. Những tri thức tư tưởng ấy được chuyển hóa từ tâm nhà thơ, một cách rất tinh tế, thành những tứ thơ độc đáo.

 Trần Ngọc Tuấn đã thâm nhập rất sâu vào Kinh Chuyển Pháp Luân, Kinh Vô Ngã tướng, Bài Kinh ngắn về Tính Không của Phật; Kinh Kim Cang, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Pháp Hoa… Anh cũng đã hành Thiền theo Tịnh Độ Tông và vận dụng phép biện chứng “Bát Bất” của Long Thọ (Bất sinh, bất diệt/ Bất thường, bất đoạn/ Bất nhứt, bất dị/ Bất lai, bất khứ). Người đọc cần có sự hiểu biết tối thiểu văn hóa, tư tưởng Phật mới có thể cảm nhận được cái hay của thơ Thiền Trần Ngọc Tuấn. Chẳng hạn, những hình ảnh “Hoa sen nghìn cánh”, câu chuyện “Chàng cùng tử”, hoặc tư tưởng “Tự mình thắp sáng”, kiểu ngôn ngữ “Vô ngôn”… đều hàm chứa những ý tứ sâu xa trong kinh điển Phật giáo. Nếu không nắm được những tri thức ấy, và nếu không “thành tâm”, người đọc sẽ không cảm được cái hay của thơ Thiền.

Trần Ngọc Tuấn có nhiều tứ thơ đẹp, mới lạ làm ngỡ ngàng người đọc. Cái hay của thơ anh một khi đã thấm vào tâm, bạn đọc sẽ thấy lòng mình tự sáng lên.

Bao năm/ Ở núi/ Quên trò chuyện

Nên tiếng của người/ Như tiếng chim

(Ở núi)

Vừa xong/ Một giấc mơ hoa

Ơ hay!/ Chợp mắt/ Đò qua sông rồi

(Ngày đẹp)

Trăm con đom đóm/ Tự tình

Chợt đêm huyền ảo/ Chợt mình rỗng không

(Tự tình)

Bài thơ Hồn nhiên xanh tập trung đầy đủ những phẩm chất của một Hành giả đã vượt qua những bão giông của Ngã chấp để tới bến bờ bên kia (đáo bỉ ngạn) của Miền Tịnh Độ; vừa bung nở những nét tài hoa vốn có trong thơ Trần Ngọc Tuấn. Tôi gọi là “Tài hoa” vì Trần Ngọc Tuấn sáng tạo những tứ thơ độc đáo để chuyển tải tư tưởng Thiền, góp thêm vào làm giàu có thơ Thiền Việt Nam.

Hồn nhiên xanh lá trên cành

Không hay sâu bọ loanh quanh bóng mình

Hồn nhiên xanh suối lặng thinh

Không hay sấm chớp thình lình bão giông

 

Hồn nhiên xanh biển mênh mông

Không hay sóng cả trải lòng trùng khơi

Hồn nhiên xanh nắng bên trời

Không hay mây trắng cất lời hư vô…

(Hồn nhiên)

Trạng thái “Hồn nhiên xanh” tương phản với thực tại vô thường không phải là thái độ sống “vô vi” của Lão Trang thường thấy trong thơ trung đại Việt Nam. Hồn nhiên xanh là vượt qua bão giông tư tưởng, cái tâm sai biệt nhị nguyên; vượt qua những bể khổ tử - sinh; những hư huyễn ảo giác; ác nghiệp. Hình ảnh thiên nhiên cây cỏ, nắng bên trời, giun dế niệm kinh dưới mồ vừa gợi ra một cảnh sắc thực tại, vừa là cảnh sắc ẩn dụ để chuyển tải tư tưởng Thiền, tư tưởng của một Hành giả đã như cánh chim bay vút lên, thoát khỏi những nghiệt ngã dữ dội của Thân, Nghiệp (“Đã mang lấy nghiệp vào thân” - Nguyễn Du).

Bên đồi

Một ngọn khói bay

Ai ngồi đốt lửa

cho ai sáng lòng

(Ánh lửa hồng)

Bài thơ chỉ là một cặp Lục bát được ngắt ra để tạo thành một bài Tứ tuyệt, thế nên có 2 cách đọc. Đọc bài thơ như Tứ tuyệt, và đọc bài thơ như Lục bát.

Tôi thích đọc Lục bát, bởi Lục bát có nhạc, có vần, cấu trúc tứ thơ tròn đầy, hình tượng trong thơ hiển lộ; nhờ đó tình ý vang lên, cộng hưởng với những rung động trong tim phát ra những vòng hào quang rất đẹp của trí tuệ.

Bên đồi/ Một ngọn khói bay

Ai ngồi đốt lửa/ cho ai sáng lòng

(Ánh lửa hồng)

Đọc theo cách đọc một văn bản nghệ thuật hiện thực: Bài thơ là một cảnh hiện thực, một lát cắt không thời gian. Ai đó đốt lửa bên đồi làm khói bay lên. Một cảnh vừa quen vừa lạ: cảnh đốt đồng ở miền Tây sau mùa gặt hoặc khói cơm chiều ở thôn quê (“Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” - Huy Cận)… Nó gợi ra sự thanh bình, yên ả và ấm cúng nhàn nhã sau những ngày làm lụng vất vả. Đại từ “Ai” trong “Ai ngồi đốt lửa” là tha nhân, còn “ai” trong “cho ai ấm lòng” lại chính là nhà thơ, người hành Thiền. Vì có lửa của người khác chia sẻ nên nhà thơ cảm thấy ấm lòng, ấm lòng vì có tha nhân ở bên, ấm lòng vì tình người như lửa (Khác với J.P.Sartre: “Tha nhân là địa ngục”).

Nhưng bài thơ trở nên lạ trong trường mỹ học Thiền. Khói là hình ảnh hư huyễn của vạn vật. Nó gợi ra cả một trời suy tưởng về tồn tại, về những nuối tiếc cuộc đời khi con người biết rằng tất cả rồi sẽ qua đi, sẽ tan đi và biến mất như làn khói kia. Con người phải đối mặt với hư vô và tan vào hư vô hay là phải nỗ lực nhảy qua hố thẳm (Hố thẳm tư tưởng - Phạm Công Thiện).

Nhưng bài thơ đột ngột chuyển ý. Câu Lục là sự vật, câu Bát là con người. Tâm điểm chú ý của bài thơ không phải là khói mà là tha nhân, là lửa, bởi hai nhân tố này đem đến một giác ngộ: “Ai ngồi đốt lửa/ cho ai sáng lòng”.

Nhà thơ - người hành Thiền, nhìn khói mà ngộ ra chân lý vô thường của sự vật, càng ngộ ra Thân - Nghiệp của Ngã. Mỗi người là quả nghiệp của chính mình, của cha mẹ, của kiếp trước nhưng cũng của tha nhân. Chính người đốt lửa tạo nghiệp phúc làm cho nhà thơ giác ngộ (sáng lòng).

Đức Phật từng dạy: Vậy nên này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình (atta-dipà viharatha), hãy tự mình y tựa chính mình (attàsaranà) chớ y tựa một cái gì khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác”.

Có thể hiểu người đốt lửa ấy là người đem đến chánh pháp (Đức Phật) cho hành giả, để rồi nhà thơ tự sáng.

Ung dung/ Từng bước du hành

KHẢI-THỊ-NGỘ-NHẬP/ Rành rành dấu chân

(Tự sáng)

KHẢI-THỊ-NGỘ-NHẬP là từ dùng trong Kinh Pháp Hoa. Phật vì một đại sự nhân duyên mà ra đời: khiến chúng sinh được giác ngộ, và nhập vào tri kiến của Phật. Khai thị là làm cho thấy, mở ra, chỉ cho thấy[3].

Bài thơ chỉ có 16 chữ nhưng chứa đựng những tư tưởng lớn về con người (quan hệ Ta với Tha nhân), về hiện thực, về chứng ngộ Thiền; hơn thế còn hiển lộ phẩm chất Hành giả an nhiên và cốt cách của một nhà thơ tài hoa. Đó là chỗ đặc sắc của thơ Thiền Trần Ngọc Tuấn.

 

 ________________________

[1] Trích sách Sen nở trời phương ngoại của HT Làng Mai

[2] Thích Hạnh Bình - Tư tưởng Không của Phật giáo Đại Thừa:

https://thuvienhoasen.org/p25a7139/2/tu-tuong-khong-cua-phat-giao-dai-thua

[3]http://www.hoalinhthoai.com/buddhistdictionary/detail/char-1184/.html