CHÀO MỪNG 47 NĂM HÒA BÌNH, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975 - 30/4/2022) - Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh!
CHIẾC XUỒNG ĐÊM


Truyện ngắn của NGÔ HƯỜNG

(Tạp chí Văn nghệ Đồng Nai số 45)



Giáng Vân lái xuồng vòng một đường nữa vào con rạch bên mé phải. Cô cũng không còn nhớ mình đã đi qua mấy con rạch, mấy cái tắc trong vùng rừng đước hoang vu này. Chiều xuống dần, phía xa xa rực lên một ráng đỏ ngầu trông như cả dòng sông máu chực đổ xuống. Những con chim bay náo loạn trên đầu cộng thêm kinh nghiệm dã ngoại miền sông nước báo cho cô biết tối nay sẽ có một trận mưa. Nhưng hề gì. Bây giờ đối với cô chết còn chưa sợ nữa là mưa. Cô giật mạnh ga làm chiếc xuồng lao đi vun vút trong mênh mông rừng đước.                                                                       

Đây là lần đầu tiên Giáng Vân dám thuê xuồng đi dã ngoại một mình. Cô chạy một mạch từ Sài Gòn xuống như chạy trốn cuộc đời. Sài Gòn đô hội, hào hoa và đầy cạm bẫy đối với cô. Cố gắng mãi mà những hình ảnh sáng nay vẫn không sao xóa được. Vấn mái tóc xộc xệch vì nắng gió lại cho tinh tươm nhưng hai quầng mắt Giáng Vân đã sưng mọng tự lúc nào. Cô đã tự tát vào mặt mình, nguyền rủa cái số phận hẩm hiu đưa đẩy cô vào con đường nhục nhã ê chề là đi cướp chồng người khác. Giáng Vân cố nhớ lại những cử chỉ, hành động của Phong khi tỏ tình với cô, những chuyến du lịch dài ngày, những cuộc gặp gỡ bạn bè khi hắn công khai chuyện tình cảm mà sợ. 

Phong không còn trẻ nhưng được cái giàu, mà cái sự giàu thì không chỉ Giáng Vân mà cả đám bạn tuổi teen của cô đều mơ ước. Cô không so đo tuổi tác khi biết Phong hơn cô cả mười mấy tuổi. Lúc này cô chỉ nghĩ, lấy được người chồng thành đạt, có những cái “gạch đầu dòng” chuẩn là “chuột sa chĩnh gạo” rồi. Quen nhau mới được mấy tháng mà Phong đã dẫn cô đi chơi hết các khu du lịch ở đất miền Đông này, lại còn dẫn cô về Tây Nguyên xin ba mẹ đi lại tìm hiểu. Con gái xứ núi như cô mà có một vị hôn phu lái xe bảy chỗ về tận nhà ra mắt làm cha mẹ và cả dòng họ rạng ngời vì hạnh phúc. 

***

Gió bắt đầu thổi mạnh trên những tán đước, phía trước mây vần vũ kéo tới, Giáng Vân kéo áo khoác lên che nửa mặt rồi tìm gốc đước sum suê tấp vào trú mưa. Sự vội vã, đột ngột, thêm chút hoảng loạn đã làm cho cô không chuẩn bị được thứ gì như những lần dã ngoại trước. Cô chỉ vơ vội được cái giỏ xách trong có mấy triệu đồng rồi phóng xe như điên xuống bãi. Ông Tư Móm ngạc nhiên vì cô chỉ đi có một mình, nhưng ông cũng vội vàng tháo dây neo chiếc xuồng ba lá rồi đứng nhìn bóng cô khuất hút sau những đợt sóng trắng xóa. Mưa ở xứ đồng bằng không đôi co nhiều lời như xứ núi của cô. Mới nổi gió một lúc đã sầm sập mưa. Giáng Vân co ro nhìn những làn mưa đang gào xé trên đầu, trước mặt như cơn thịnh nộ của mụ đàn bà bị giật chồng hồi sáng. Những hạt mưa xé gió ném ràn rạt vào mặt cô như những cái bạt tai, những cú giật tóc của đám đàn bà đánh ghen làm cô xây xẩm hết mặt mày. Cô chưa bao giờ vào xứ này, đúng ra là Phong chưa dẫn cô vào xứ này. Những lần đi dã ngoại, Phong thuê hẳn một chiếc ghe lớn chở cả đám bạn của hắn và Giáng Vân theo con sông Lòng Tàu ra tận Cần Giờ, ăn chơi mấy ngày trên sông nước. Những lần đi qua đây, cô đều muốn khám phá vùng sông nước này mà Phong cứ gạt đi: “Trong đó chỉ có khỉ thôi em ạ”. Giáng Vân tiu nghỉu nhìn những giồng đước hai bên bờ cứ xa dần, xa dần… 


Chiếc xuồng đêm.jpg
Tranh minh họa Hứa Tuấn Anh


Trước lúc mưa đổ xuống, Giáng Vân đã cố tìm một túp lều chăn vịt để trú mưa, nhưng có lẽ cô đi lộn đường nên càng đi càng hun hút. Cô gục xuống vì lạnh, vì mệt, vì đói. Bỗng cô nghe giọng một ông lão hỏi vọng vô: 

- Có ai ở trỏng không?

Giáng Vân giật mình dụi mắt vì cô không tin ở giữa chốn hoang vu này cũng có người ở. Rồi như gặp được vị cứu tinh, cô reo lên: 

- Dạ, có con cụ ơi! 

Ông lão tấp chiếc xuồng ba lá vào sát bụi đước rồi nheo mắt hỏi: 

- Cô gái đi đâu mà đêm hôm còn ở tận đây?

 Giáng Vân nói dối: 

- Dạ, con đi dã ngoại mà lộn đường, thêm trời tối nên không biết đường ra. 

Ông lão đưa cho cô cái bao nilon kêu choàng vô người rồi chạy xuồng theo ông. Giáng Vân ngoan ngoãn chạy theo bóng chiếc đèn Huê Kỳ chập chờn phía trước. Chạy được một lúc, mưa bắt đầu tạnh dần thì thấy phía trước có ánh đèn lớn hắt ra, ông lão kêu Giáng Vân tấp xuồng vô rồi gọi: 

- Bà nó ơi, phụ tôi một tay đưa mẻ cua này lên với. 

Trên bờ, bóng một bà lão gần bảy chục tuổi cầm chiếc đèn măng sông rọi xuống: 

- Mưa gió thế này, không biết đường về sớm làm tui lo.

Rồi như phát hiện ra chiếc xuồng của Giáng Vân, bà lão hỏi: 

- Ai kia?

Ông lão vừa buộc chiếc xuồng vào gốc mắm vừa nói:

- Có cô gái này đi chơi bị lộn đường nên tui đưa về đây, sáng mơi tui đưa cổ trở ra ngoải.

Giáng Vân xớ rớ đứng trên bờ mà chẳng dám đi tiếp. Bà lão phải giục:

- Khổ thân con gái, thôi vào nhà kẻo chết cóng ra bây giờ. May quá, tui vừa nấu một nồi cháo sò huyết, hai ông con vào ăn đi đỡ lạnh.

Giáng Vân rưng rưng đón tô cháo từ tay bà lão rồi không ngại ngần, húp sạch. Hơi ấm từ tô cháo, cộng thêm sự nồng nhiệt của vợ chồng ông lão bắt cua đã làm Giáng Vân tỉnh táo hẳn. Cô đảo mắt nhìn quanh căn chòi của ông bà lão rồi dừng lại khoảng ván rộng trên sàn. Như đọc được suy nghĩ của cô, ông lão vừa vấn điếu thuốc rê vừa nói: 

- Chỗ đó là của mấy thằng con trai tui, nó đang đi công chuyện phải mấy ngày nữa mới về. Cô cứ ở lại đây, đừng ngại.

Giáng Vân định hỏi về mấy người con của ông lão nhưng thấy không tiện nên thôi. Với lại, cả ngày quần nhau với sông nước nên cô chỉ muốn chợp mắt một chút. Bà lão đưa cô vào góc chòi rồi bảo cô ngủ lấy sức mai còn về nhà. Giáng Vân ngoan ngoãn nằm xuống, nhưng những hình ảnh sáng nay cứ chập chờn trước mặt. Cô không tin nổi vào tai mình khi có người đến tận công ty cô xưng là vợ của Phong, lại còn bảo cô là kẻ giật chồng rồi đưa cô xem những video quay cảnh đầm ấm của gia đình họ. Giáng Vân chỉ biết đứng đực ra như trời trồng mặc cho những cơn cuồng nộ của đám đàn bà đánh ghen dội xuống đầu. Cô không còn mặt mũi nào nhìn đồng nghiệp khi mà trước đây cô luôn tự hào về người yêu vừa giỏi giang lại vừa giàu có. Cô vùng dậy bỏ chạy, vứt lại đằng sau tất cả những ánh mắt thương hại cũng như dè bỉu của mọi người. Phong là con người như vậy ư? Vậy bạn bè hắn cũng là những người nói dối ư? Giáng Vân không dám tin. Một ngàn lần cô cũng chẳng dám tin.

***​

Bà lão kéo chăn đắp cho Giáng Vân làm cô tỉnh giấc. Đêm ở rừng, muỗi từng đàn cứ vo ve bên tai nhưng vì mệt nên cô ngủ quên tự lúc nào. Giáng Vân hé mắt nhìn ra ngoài, hình như ông lão đang nói chuyện với ai đó. Trên tấm ván kê giữa sàn lúc nãy cô ngồi ăn cháo có mấy người đang quây quần vừa ăn vừa nói chuyện. Bóng một thanh niên người mảnh khảnh chỉ tay vô góc lán hỏi ông lão:

- Liệu người trong kia có tin được không ba?

Ông lão xoa xoa đôi bàn tay rồi gật đầu:

- Tin được, người ta đi lạc chứ không làm hại gì mình đâu.

- Nhưng cũng phải cảnh giác ba à, tai bay vạ gió, dạo này chánh quyền gắt gao lắm, sểnh một chút là mình mất mạng như chơi – Người thanh niên lấm lem bùn đất nhắc nhở ông lão.

Ông lão xua tay một cách chắc chắn:

- Không phải, đây là một cô gái đang có chuyện buồn nên mới đi lạc vào đây. Cô ấy chỉ ngủ nhờ một đêm rồi mai về nhà.

Người đàn ông mảnh khảnh lúc nãy nói tiếp:

- Ngày mai hàng về, mình không thể chủ quan được ba à, cô ấy không được biết chuyện, nếu không sẽ bất lợi cho người vận chuyển. Anh em tụi con đã phải vất vả lắm mới vượt qua được mấy chốt canh mà về đây.

Giáng Vân run bắn cả người, vậy là cô đã lạc vào tay bọn buôn lậu. Nếu không làm sao có hàng về, làm sao lại sợ chính quyền gắt gao, tại sao lại phải vượt chốt canh trong đêm tối? Hàng loạt câu hỏi cứ nhấp nhổm trong đầu làm Giáng Vân không thể ngủ tiếp. Từ trước đến nay nghe nói đến bọn buôn lậu nhưng cô nào đã gặp bao giờ. Chả trách mà hành động của họ hết sức lén lút, đi trong đêm hôm, người toàn sình lầy nhớp nháp. Cô muốn thoát ngay khỏi căn chòi này, nhưng mãi đến gần sáng đám người kia mới chịu rút đi. Căn chòi trống trải trở lại. Bà lão lục đục dậy nấu cơm sáng thì Giáng Vân cũng giả đò tỉnh giấc. Cô không dám ở lại thêm một phút giây nào nữa, cô vội vã chào bà lão rồi phóng xuồng trở ra. Đến khi chạy được một khoảng cách vừa đủ cô mới dám ngoái đầu lại, nhưng do trời chưa sáng hẳn nên cô chỉ đánh dấu được căn chòi bằng gốc cây mắm già mà ông lão hồi hôm neo xuồng cho cô.

Điều đầu tiên Giáng Vân nghĩ đến khi thoát ra khỏi tay những kẻ buôn lậu là tìm cho ra một chốt biên phòng gần đây để báo với họ sự việc này. Nếu không, hàng cập được bến thì không biết sẽ để lại hậu quả như thế nào. Bởi vừa đi vừa đánh dấu đường nên loay hoay đến lúc mặt trời lên cao rồi cô vẫn chưa ra được sông lớn. Cô bắt đầu nản thì phía xa xa có chiếc ghe lớn đang tiến đến. Giáng Vân ngờ ngợ nên tấp xuồng vào gốc mắm quan sát. Ghe chạy rất chậm, chở một đoàn người với dáng vẻ hết sức trang nghiêm. Lâu lâu, họ lại thả cái gì đó xuống sông như những vòng hoa mà quân đội thả xuống biển nhân các dịp lễ. Đến khi nhìn rõ vài ba người trên ghe mặc đồng phục của quân đội, cô mới dám chèo xuồng lại gần để hỏi đường ra chốt canh. Hình như những người ở trên ghe cũng đang xì xào vì sự xuất hiện lạ lùng của cô. Người đàn ông mặc quân phục với nhiều huân chương trước ngực hỏi vọng xuống:

- Cháu gái đi đâu mà ở đây sớm thế này?

Giáng Vân từ tốn đáp:

- Dạ, thưa bác, cháu đi chơi bị lộn đường. Bác có thể chỉ đường dùm cháu ra chốt canh của biên phòng không ạ?

Người đàn ông mặc quân phục cười lớn:

- Đường ở đây thì bác là người rành nhất rồi, cháu không cần phải ra chốt biên phòng nữa. Để cậu này buộc xuồng vào sau ghe của bác, cháu lên đây các cô chú sẽ đưa cháu đi chơi khắp cái Rừng Sác này.

Giáng Vân ậm ừ:

- Dạ cháu… dạ cháu…

Một cô trong đoàn người nói thêm vào:

- Cháu không phải ngại đâu, các cô bác đây như người nhà cả, cháu cứ lên ghe đi một vòng sông Lòng Tàu cho biết, mai mốt có đi chơi một mình cũng không lo bị lạc.

Giáng Vân đành ngoan ngoãn leo lên ghe mà trong lòng đang như lửa đốt vì chưa tìm được chốt canh biên phòng. Tuy vậy, cô vẫn lặng lẽ ngồi hóng chuyện. Đoàn người vừa đi vừa chuyện trò rôm rả. Lâu lâu, theo lệnh của người mặc quân phục, một bó hoa lại được thả xuống. Giáng Vân tò mò hỏi cô ngồi bên cạnh:

- Đoàn tham quan của mình sao lại thả xuống sông nhiều hoa vậy cô?

Người mặc áo bà ba, quấn khăn rằn dụi mắt nói:

- Cháu không biết đâu, ngày xưa chiến tranh, bộ đội ta đã hi sinh ở đây nhiều lắm. Vì đặc thù sông nước và cá dữ nên có hơn một nửa liệt sỹ chưa tìm được xác. Hằng năm, có thời gian là cô chú lại cùng nhau thả hoa xuống sông để an ủi đồng đội.

Giáng Vân trố mắt lên tò mò:

- Vậy sao cô, hèn gì cháu thấy từ xa đoàn mình đã thả nhiều hoa như thế.

Người mặc áo bà ba hỏi lại Giáng Vân:

- Vậy cháu đi đâu mà để lộn đường một mình thế này? Rồi tối qua cháu ở đâu?

Giáng Vân vô tư đến mức quên luôn chuyện buồn dẫn đến chuyến du ngoạn mạo hiểm, cô chỉ nhớ đêm qua đã ở một nơi hết sức nguy hiểm. Cô buột miệng nói:

- Tối qua cháu gặp được vợ chồng ông lão bắt cua, được họ cho ở nhờ đến sáng nay cô ạ.

Người mặc bộ đồ bà ba ngạc nhiên:

- Vợ chồng ông lão bắt cua nào? Theo cô nhớ thì gần đây đâu có nhà nào của người dân đâu. Chỉ có vài chiếc thuyền neo trên sông làm nghề mò cua bắt ốc.

Giáng Vân nói chắc nịch:

- Thiệt mà cô, tối qua cháu còn được bà lão cho ăn cháo sò huyết nên mới có sức đi tiếp đấy ạ.

Giáng Vân định kể tiếp cho người mặc áo bà ba nghe câu chuyện cô phát hiện ra sào huyệt của bọn buôn lậu nhưng sợ “rút dây động rừng” nên thôi không nói nữa. Cô ngồi dựa vào mạn thuyền nheo mắt nhìn những gốc đước hai bên bờ tư lự. Người đàn bà mặc áo bà ba quay sang kể chuyện cho mấy đứa cháu:

- Ngày xưa, ông bà ngoại cùng biết bao chiến sĩ của ta đã sống và chiến đấu anh dũng trên vùng sông nước này. Hồi đầu kháng chiến, cư dân rừng Sác rất đông nhưng sau họ tản mác theo cường độ ác liệt của chiến tranh. Tuy nhiên, họ không chạy mà luồn lách, vừa kiếm sống vừa bám chiến khu hoạt động cách mạng. Có nhiều gia đình cả nhà đi bộ đội, nhiều gia đình vừa là thám báo vừa là nguồn cung cấp quân lương cho đơn vị. Chính vì sự hoạt động tích cực của đội ngũ này mà chúng ta biết trước được những trận càn, tránh tổn thất. Chính cái giồng đước lúc nãy mình lên thắp nhang là nơi ngày xưa một chiến sĩ dũng cảm đã hi sinh khi đang làm nhiệm vụ.

Đứa cháu ngoại học lớp 5 há hốc mồm nghe bà ngoại kể chuyện mà như đang chứng kiến khung cảnh sống nghĩa tình của mấy chục năm về trước. Lúc đầu Giáng Vân không để ý, nhưng sau cô thấy câu chuyện của người đàn bà mặc áo bà ba dính líu đến vùng sông nước này nên cô lo lắng hỏi:

- Lâu chưa cô?

Người đàn bà mặc áo bà ba trả lời:

- Gần nửa thế kỷ rồi. Hôm đó tại căn cứ quân y ở tắc Kỳ Quang trên bờ sông Thị Vải, chiếc OH6 của Mỹ phát hiện được đơn vị. Thấy tình hình nguy hiểm, đội phó Kim Mến bàn với đơn vị nhanh chóng đưa thương binh ra khỏi căn cứ, còn mình nán lại thu dọn dụng cụ thuốc men. Chỉ vài phút sau bọn "cá lẹp" tới phóng hỏa tiễn ào ạt xuống khu rừng. Cây cối, hầm hố tanh bành trong bùn sình tung tóe. Người nữ y sĩ nằm úp mặt sóng soài, một chân gãy nát, vai còn nặng trĩu túi cứu thương, ba lô rách toác văng ra chiếc áo gối chị may cho con chưa kịp gửi…

Giáng Vân chợt ớn lạnh, cô như thấy hình ảnh đó vừa diễn ra ở ngay trước mắt mình, cô không dám hỏi tiếp người đàn bà mặc áo bà ba. Bà cũng không để ý mà kể tiếp.

- Ngày xưa, chuyện hy sinh của chiến sĩ ta khi làm nhiệm vụ là chuyện bình thường. Nhiều lần anh em chiến sĩ đều được đồng đội truy điệu sống trước khi xuất kích. Có những chiến sĩ thoát khỏi bao nhiêu vòng vây của kẻ thù nhưng rồi lại hy sinh trên sông nước bởi loài cá dữ. Nhiều lần anh em đã tìm cách tiêu diệt cá sấu nhưng với địa hình rộng và đây lại là “địa bàn” của loài thú dữ này nên bộ đội ta bị cá sấu tấn công không ít.

Chiếc ghe lách dần vào những cái tắc hẹp hơn, trời bắt đầu đổ nắng gay gắt xuống mặt nước. Người đàn ông mặc bộ quân phục vẫn đứng hiên ngang trước mũi nhe mặc cho mọi người dần lui vào trong tránh nắng. Lần nào trở lại đây, trong ông cũng đầy hoài niệm. Ông nhớ như in những hình ảnh của đồng đội cách đây mấy chục năm. Ông thuộc nằm lòng những con lạch đã từng giấu quân chiến đấu chống kẻ thù. Những trận đánh oai hùng của Đoàn 10, một thời ông chỉ huy còn vang dội đến tận hôm nay và mai sau. Ông cố hít căng lồng ngực để được hòa quyện cùng sông nước, cùng đồng đội. Một lúc sau, ông ngồi xuống và lôi trong túi ra điếu thuốc rê hít hà cho thỏa nỗi nhớ nhung. Người đàn bà mặc áo bà ba vẫn thủ thỉ kể chuyện năm xưa, bà kể những khó khăn gian khổ, những chiến công và những con người nơi Chiến khu Rừng Sác. Ở họ toát lên một vẻ oai phong lẫm liệt mà Giáng Vân chưa từng hình dung. Cô đang thả trôi những dòng suy nghĩ của mình theo lời kể của người đàn bà mặc áo bà ba thì chiếc ghe chạy chậm lại rồi từ từ neo vào bụi mắm bên bờ. Giáng Vân giật nảy mình khi nhớ ra đây là gốc mắm hồi hôm ông lão đã buộc xuồng neo lại cho cô. Cô mở to mắt nhìn quanh và không hề thấy dấu vết một căn chòi hay góc lán nào cả. Nhìn đi nhìn lại cô vẫn chắc chắn rằng đây là gốc mắm hôm qua có căn chòi của ông bà lão bắt cua. Người đàn ông mặc quân phục nói với mọi người:

- Chúng ta hãy lên bờ thắp cho vợ chồng bác Hai nén nhang.

Đoàn người lục tục kéo nhau lên bờ. Phía trên có cái am nhỏ với bát nhang đã kịp khô sau trận mưa lớn tối qua. Giáng Vân đứng há hốc mồm ra nhìn cái cây mắm già rồi nhìn cái am mà lạnh xương sống. Có lẽ nào?... Người đàn bà mặc áo bà ba giục cô:

- Lên bờ thôi cháu gái, lên thắp nhang cho vợ chồng bác Hai để được phù hộ, ông bả thiêng lắm đó.

Giáng Vân run lên từng đợt nhưng cũng cố nắm tay người đàn bà mặc áo bà ba lên bờ. Người đàn ông mặc quân phục đốt một bó nhang to, chia cho mọi người rồi khấn:

- Kính lạy hương hồn vợ chồng bác Hai, hôm nay là ngày rằm, vợ chồng chúng con cùng mọi người tới đây thắp nhang tưởng nhớ công ơn của vợ chồng bác.

Ông xá ba cái rồi cắm nắm nhang lên cái am nhỏ. Xong xuôi ông quay lại nói với mọi người:

- Thưa mọi người, đây là nơi thờ vợ chồng bác Hai, người đã có công lớn trong việc nuôi quân những ngày kháng chiến gian khổ. Vợ chồng bác vừa phải mò cua bắt ốc, chặt lá dừa nước đem lên chợ bán để nuôi anh em vừa làm nhiệm vụ thám báo. Một lần trong lúc đang đi mò cua thì bị giặc bắn chết tại đây, dưới gốc cây mắm già này. Anh em chúng tôi tới để khâm liệm thì khúc sông này quậy lên một màu đỏ của máu, lũ cá sấu quen mùi thịt người đã tha xác đi mất, còn lại chiếc xuồng neo dưới gốc mắm này. Sau nhiều lần quay lại nơi đây, không biết ai đó đã lập cái am này làm nơi thờ tự vợ chồng bác.

Giáng Vân tựa vào người đàn bà mặc áo bà ba suýt xỉu, cô thấy bủn rủn hết chân tay. Người đàn bà mặc áo bà ba lấy dầu bôi lên thái dương cho cô rồi dìu cô ngồi xuống bên gốc mắm. Cô khóc òa lên nói với người đàn bà tốt bụng nọ:

- Cô ơi… là… là… vợ chồng… bác… Hai.

Người đàn bà mặc áo bà ba như không nghe thấy những lời của Giáng Vân, bà đứng dậy đi tới trước cái am xá ba cái rồi quay lại bảo cô:

- Cháu lên đây với cô.

Giáng Vân đứng dậy làm theo lời người đàn bà mặc áo bà ba. Cô quỳ xuống trước chiếc am nhỏ lạy ba cái rồi chắp tay khấn:

- Con cám ơn gia đình ông bà đã cưu mang con. Suốt đời con không quên ơn nghĩa này. Nhất định con sẽ quay trở lại nơi đây với một tâm thế khác, không phải là một kẻ trốn chạy cuộc đời.

Người đàn bà mặc áo bà ba đã tế nhị đi xuống gốc mắm chờ cô. Giáng Vân bước lên ghe mà lòng dạ thanh thản hẳn. Những chuyện xảy ra hôm qua với cô có nhằm nhò gì so với sự hy sinh gian khổ của bao thế hệ đi trước. Lớn lên, xuống thành phố học, rồi đi làm, Giáng Vân chưa bao giờ nghĩ rằng mình cần làm gì cho Tổ quốc. Chưa bao giờ cô biết được rằng để có cuộc sống sung túc của thế hệ trẻ hôm nay là bao máu xương của cha anh đã đổ xuống. Giáng Vân tự hứa với mình sẽ tìm hiểu về vùng đất anh dũng này với sự trợ giúp của người đàn ông mặc quân phục và người đàn bà mặc áo bà ba phúc hậu kia. Cô thò tay vào giỏ lấy điện thoại, không ngần ngừ, tìm số của Phong rồi chạm vào nút “delete”. Cô cần phải thay đổi, Phong đâu đáng để cô còn phải lưu tâm.

N.H