CHÀO MỪNG 47 NĂM HÒA BÌNH, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975 - 30/4/2022) - Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh!
ĐÔI LỜI VỀ NHẠC SĨ TRẦN VIẾT BÍNH

*Lời tòa soạn: Tác phẩm "Trần Viết Bính - những góc nhìn đa chiều" vừa được Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành, tập hợp nhiều bài viết về Nhạc sĩ Trần Viết Bính, Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật Việt Nam, hiện đang sống và làm việc tại Đồng Nai. Sau đây là bài viết thay cho lời nói đầu của sách của GS-NS Tô Vũ.



NS Tô Vũ.png
Giáo sư - Nhạc sĩ Tô Vũ
 


Một buổi sáng thu năm 1957, khi theo dõi chương trình ca nhạc của Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam, tôi chợt bắt thấy một bài ca có âm điệu thật lạ. Khi nó trở lại vài lần cũng trên làn sóng phát thanh, tôi biết đó là bài “Dòng sông” với tác giả có cái tên lạ hoắc trong làng sáng tác âm nhạc thời đó: Trần Viết Bính.

Chỉ ít lâu sau, tôi lại gặp Trần Viết Bính vẫn qua làn sóng phát thanh, trong “Chiếc nón Huế” và cũng vẫn với cái ấn tượng “có cái gì là lạ” trong lối viết ca khúc này. Và đặc biệt mấy năm sau đó, trong một chương trình ca nhạc thiếu nhi của Đài phát thanh “Tiếng nói Việt Nam” tôi đã thực sự xúc động khi nghe “Hạt gạo làng ta”, nhạc Trần Viết Bính phổ thơ “Chú bé làm thơ” (thuở ấy): Trần Đăng Khoa. Có thể nói “Hạt gạo làng ta” là tín hiệu thứ ba và là tín hiệu cuối cùng khiến tôi phải chú ý tới “hiện tượng” Trần Viết Bính.

Theo thói quen nghề nghiệp, tôi đã bắt đầu “chăm sóc” Trần Viết Bính bằng cách phân tích mấy tác phẩm của anh, mà tôi đã phải ký âm để có phổ bản, qua giọng hát của những ca sĩ trên Đài. Bằng vài thao tác nghiệp vụ không tới nỗi phức tạp, tôi cho rằng đã tìm ra nguyên nhân làm nẩy sinh cái cảm giác “khác lạ” trong tôi khi nghe những ca khúc của một tác giả đến từ thành phố Nam Định.

Trước hết phải nói đến phần lời ca là cái mà một người “bình thường” cảm nhận thấy đầu tiên khi nghe một khúc hát mới. Khác với phần lớn lời ca những ca khúc phổ biến trong bối cảnh lịch sử  thời đó mà phong cách hầu như nhất quán là đi theo dòng thơ của những Tố Hữu, Hoàng Trung Thông, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi…lời ca trong “Dòng sông”, “Chiếc nón Huế” lại phảng phất dòng thơ – ca dao kiểu Anh Thơ, Nguyễn Bính. Lúc sử dụng phương pháp phổ nhạc, Trần Viết Bính, với mục đích sáng tác cho lứa tuổi thiếu nhi, đã tỏ ra thật thông minh và tinh tế khi chọn “Hạt gạo làng ta”, bài thơ của một tác giả thiếu nhi đích thực, vừa hồn nhiên trong sáng lại vừa thâm thúy tinh vi, hình thức có dạng kể vè, đồng dao rõ nét. Như vậy, có thể nói, lời ca trong ca khúc của anh có những gắn bó hiển nhiên với thơ ca dân gian truyền thống.


bs TVB-goc nhìn đa chiều.JPG
(Ảnh TH)



Đến phần âm nhạc, những vấn đề chủ chốt là thuộc các lĩnh vực thang âm – điệu thức, giai điệu ( bao gồm âm điệu và tiết tấu)  và bố cục hay là khúc thức của tác phẩm. Trần Viết Bính đã sử dụng chủ yếu – và hầu như nhất quán trong những ca khúc đầu tiên – thang âm năm bậc (ngũ cung) hoặc thuần túy ( Hạt gạo làng ta) hoặc liên kết ( còn gọi là dùng thủ pháp giao thế) cách thang năm bậc (Dòng sông, Chiếc nón Huế). Đó là những thang âm của ca nhạc dân gian truyền thống Bắc. Sau này trong một số bản (đặc biệt những bản viết ở miền Nam) anh cũng “mở rộng” đến những thang nhiều bậc hơn, nhưng trong trường hợp nào cũng vậy, người ta thấy rõ là anh không xem việc sử dụng thang âm – điệu thức như một nguyên tắc mà cái chính – theo tôi nghĩ – là để tránh né những bán âm, khó dung hoà với thẩm mỹ “tròn vành rõ chữ”, một yêu cầu cơ bản trong ca hát truyền thống. Do phương ngữ miền Bắc nhiều thanh điệu với những quãng cách thật sắc nét giữa các thanh, việc tuân thủ cung bậc năm âm gần như là tất yếu, nhưng với phương ngữ miền Trung, miền Nam ít thanh điệu và quãng cách giữa các thanh cũng “mờ” hơn, việc “cấm kỵ” bán âm không còn mang tính tất yếu và điều này có thể lấy thì dụ ngay trong kho dân ca, âm nhạc cổ truyền xứ Huế cũng như vùng đồng bằng sông Hậu, sông Tiền.

Có lẽ cái yêu cầu “tròn vành rõ chữ” ấy là cách giải thích (hay biện minh) hợp lý nhất cho lối tiến hành giai điệu trong ca khúc Trần Viết Bính. Thực vậy, ngay câu đầu của “Dòng sông” ta bắt gặp những quãng nhảy rộng (có khi rất rộng) liên tục, thật khó chấp nhận với những “lỗ tai” quen nghe ca khúc phương Tây.

Nhưng khi hát lên, kết hợp với những thanh trắc của các từ “ở”, “nhớ”, “chợ” thì âm điệu vẫn có dáng mượt mà, gần gụi với “lỗ tai” quen nghe dân ca, Ả đào hoặc Chèo cổ.

Về nhịp điệu và khúc thức, những ca khúc Trần Viết Bính không vận dụng những khuôn nhịp du nhập từ phương Tây trong phong trào cải cách (miền Nam gọi là Tân nhạc) như Foxtrot, Valse, Slow, Rumba… hay những khuôn mẫu ca khúc cổ điển với các công thức AB, ABA, ABA’…Phân tích theo góc độ này, “Dòng sông” có dạng ABC (Và có thể thậm chí ABCD hay AA’BC). “Hạt gạo làng ta” lại càng xa với khuôn mẫu phương Tây – Nó như một chủ đề được tái hiện năm lần, chủ đề khởi bằng cụm từ (chủ đạo) Hạt gạo làng ta và đucợ kết cấu bằng các bậc II, III, II, III, I (Rê Mi Rê Mi Đô).

Như vậy, cái “khác lạ” ở Trần Viết Bình – theo tôi – là anh đã mạnh dạn đi vào một khuynh hướng mà trong bối cảnh thời gian lúc đó, mới chỉ là những bước khởi đầu : khuynh hướng tìm về với bản sắc dân tộc trong ca khúc, giữ gìn những đặc điểm truyền thống và có những dụng công phát triển, theo đường lối cơ bản của phương châm văn nghệ : Dân tộc – Hiện đại.

Nếu sự phân tích tác phẩm cho phép ta có nhận định về khuynh hướng và phong cách của một tác giả, thì việc tìm hiểu cuộc đời lại giúp ta đi vào những nguồn gốc tạo dựng nên khuynh hướng và phong cách tác giả đó.

Nếu lần giở những trang sử đời của Trần Viết Bính – hoạt động trong các phong trào âm nhạc liên tục từ 1946 đến nay – tôi rút ra một vài nhận xét:

Trần Viết Bính không xuất thân do đào tạo chính quy. Anh được kết nạp Hội Nhạc sĩ Việt Nam (năm 1970) là do có nhiều tác phẩm được phổ biến và công nhận.

Cuộc đời sự nghiệp của anh gắn bó chặt chẽ với phong trào Ca – Múa – Nhạc địa phương được tổ chức và vận động theo đường lối của Đảng.

Đề tài và cảm hứng sáng tác của anh hoàn toàn dựa trên thực tế sống động sản xuất, chiến đấu của nơi anh sinh sống và hoạt động.

Chính nhân dân địa phương, quần chúng nghệ thuật địa phương (Ta biết rằng Nam Hà cũng như Đồng Nai lại là những cái nôi văn hóa nghệ thuật truyền thống nổi tiếng trong cả nước) đã giúp anh xây dựng cho mình quan điểm nghệ thuật cũng như phong cách sáng tác.

Trần Viết Bính không bận tâm nhiều đến những vấn đề kỹ thuật của một nhạc sĩ “nhà nghề” – Anh cũng không phải là một nghệ sĩ “lãng mạn” rút ruột tằm để phơi bày tâm sự với chúng nhân. Anh sáng tác theo sự thôi thúc của con tim, để “phục vụ” phong trào, vì những đối tượng anh thiết tha yêu mến.

Vì vậy, điểm lại khối tác phẩm của anh khá phong phú cả về số lượng (trên 130 tên bản) lẫn chất lượng (nhiều bài được yêu thích lâu dài) tôi thật sự vui mừng khi biết được Hội Nhạc Sĩ Việt Nam và Hội VHNT Đồng Nai  in tuyển tập ca khúc cho anh, với những bài có thể xem là tiêu biểu cho tâm hồn và tài năng của anh. Tôi trân trọng giới thiệu tuyển tập này, những dòng (nhạc) tâm huyết của anh với đông đảo các bạn yêu âm nhạc, và không phải chỉ với các bạn trên đất Đồng Nai, quê hương mới của anh.

Thành phố Hồ Chí Minh – Trung thu Ất Hợi 1995

            Giáo sư - Nhạc sĩ Tô Vũ