CHÀO MỪNG NHỮNG NGÀY LỄ LỚN NĂM 2022 - Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh!
DƯ CHẤN



  Truyện ngắn của Huỳnh Ngọc Lan

(Nguồn: Tạp chí VNĐN số 50 - tháng 4/2022)



(Kính tặng anh N.)

“Ừ, anh cũng nhớ các em lắm. Tuần sau thế nào cũng về Sài Gòn, chúng mình lại hát, đọc thơ nữa nhé… Hả… Sao? Lão ấy dám vỗ mông bà Châu? Ơ…Láo nhỉ? Lão còn chê thơ anh là thơ vườn nữa đấy… Hả người ta khen à? Thấy chưa? Thơ anh mà dở sao nhiều chị em nằng nặc xin chép, đúng không? Hôm đọc thơ ở Quảng Bình cảm động quá nhỉ…”. Ngồi chồm hổm bên gốc dừa ngoài vườn, giọng ông Hằng sang sảng không hạ tông. Ông quen ăn sóng nói gió cả khi đang tâm sự với các chị em. Bà Hằng vợ ông sốt ruột ngấm nguýt: “Nói gì lắm thế từ sáng đến giờ vẫn chưa dứt? Điện thoại tháng này phải tốn cả triệu rồi”.

Từ hôm được đi cùng đoàn cựu chiến binh kỉ niệm 50 năm Trường Sơn, về đến nhà ông Hằng gọi điện suốt. Hết thăm hỏi những người cùng đi, lại hỏi thăm cả những người không được đi. Mấy chục năm rồi cái thời họ đã đi qua nhiều thời khắc gian khổ cận kề cái chết, tình người càng đậm. Cảm xúc chiến trường khơi lên là hừng như than đượm. Nhiều đêm dư chấn dội lòng ông những cơn nhớ quắt quay. Bao năm sống bên chồng, bà Hằng thấu hiểu điều đó. Bụng dạ xót tiền điện thoại lắm cũng không dám ồn ã ngắt lời chồng, bà nghĩ thôi cứ cho lão xả bớt, vài hôm nữa nguội cơn cả nhà sẽ tính sổ với lão.

Tuổi ông Hằng sắp chạm đến ngưỡng thất thập, nhưng tính ông nhiều khi còn sôi nổi hồn nhiên như đứa trẻ. Tình cờ gặp ai đó dò đúng sóng văn nghệ là ông hào hứng hát liền, đến mức khán giả thường phải nghe quá tải. Ông vô tư tua đi, tua lại cả những bài ông vừa mới diễn vừa mới ngâm. Nhiều khi bà Hằng thấy ái ngại với khách, phải đỡ lời: “Anh bị thương nặng ở đầu tính khí vậy, chịu khó nghe nhá đừng chấp anh”.  Nhưng cũng có lúc bà phải bịt tai nổi cáu: “Thôi, đừng hát nữa để cho người ta nghỉ, tra tấn thế đủ rồi”. Vậy mà bạn bè chiến hữu gặp nhau nếu có mặt ông là vui như tết. Ông như cục nam châm hút họ, là tâm điểm cho những trận cười nghiêng ngả. Sợ bệnh tật hành hạ rồi làm khổ vợ con, ông tự giác không dám dùng đến rượu bia. Nhưng ông luôn sẵn lòng dốc cạn đến giọt vui cuối cùng cho bè bạn, để rồi sau đó một mình ông tự ngấm nỗi cô đơn hoang vắng đến quắt queo lòng. “Những người hay cười thì có trái tim đau khổ” ông rất tâm đắc và khoe câu ấy nghiệm đúng vào mình.

***

Thời gian Mĩ leo thang ném bom miền Bắc, ông Hằng từng là bộ đội cao xạ pháo, sau đó chi viện vào chiến trường miền Nam. Do yêu cầu chiến sự ông phải trải qua nhiều lớp học cấp tốc như lái xe cấp tốc, y sĩ cấp tốc… Có uy tín và quan điểm chính trị rõ ràng, ông lại được cấp trên đề bạt làm chính trị viên tiểu đoàn. Chiến trường ác liệt thử thách lòng gan dạ của ông bằng mấy lần nếm trải thương tật.  Nhưng cho đến khi ông bị một miểng bom chém sâu gần đỉnh đầu mới đành phải xuất ngũ với quân hàm trung tá hưởng chế độ thương binh nặng bậc 1/4.



Mh Dư chấn.jpg


 Bà Hằng vợ ông cũng được nhà nước cấp lương theo chế độ chăm sóc chồng là  thương bệnh binh. Sau ngày giải phóng, gia đình ông Hằng chuyển từ miền Bắc vào tỉnh T lập nghiệp. Nhà ông ở gần một kênh đào lớn, làm kinh tế theo mô hình vườn, ao, chuồng. Lúc nhập cư vào xóm mới chỉ có mỗi gia đình ông thuộc thành phần xã hội chủ nghĩa. Tập quán sinh hoạt ngày từ hai vùng miền còn xa lạ khác biệt nhau. Giọng ông Hằng vốn quen oang oang từ đầu xóm đến cuối xóm, vẫn giữ nếp sinh hoạt cộng đồng. Tinh thần phê và tự phê thẳng ruột ngựa mà khi người ta hiểu cho thì bảo được vậy là thật lòng. Còn khi ghét không ưng lại phán xét là tọc mạch hay xía vô đời tư người khác, lịch sự giả dối… Nên hàng xóm e dè giữ khoảng cách. Gia đình ông Hằng  vô hình như sống giữa một ốc đảo.

 Rồi xảy ra chuyện lấn đất lấn vườn. Hàng xóm lấn sang đất nhà ông Hằng có người từng là sĩ quan phục vụ trong chế độ cũ. Nhân khẩu gia đình họ rất đông áp đảo ba lần nhân khẩu nhà ông Hằng. Chuyện xung đột âm thầm giữa hai gia đình âm ỉ một thời gian. Nhiều đêm bức bối gác tay lên trán tự hỏi: “Chẳng nhẽ mình chịu thua?” Thế rồi ông Hằng đã có một quyết định lạ… Ngay tại ranh giới giữa hai nhà ông chôn một cây tre già thẳng tắp, trên ngọn treo lá cờ đỏ sao vàng. Khi lá cờ được kéo lên phần phật bay trước gió, ông hướng mặt sang nhà hàng xóm dõng dạc: “Tôi đi chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, không làm tay sai bán nước với lũ giặc nào. Máu tôi và đồng đội đã thấm mảnh đất này. Bom đạn Mĩ còn không sợ thì tôi sợ đếch thằng nào muốn gây mất tình làng nghĩa xóm?” Sau sự kiện đó phần đất của nhà ai lặng lẽ trở về chủ của nó.

 Những ngày đầu chính quyền cách mạng trong xã thấy ông tự phát treo cờ Tổ quốc họ làm lạ và ái ngại, định góp ý với ông. Nhưng màu cờ đỏ được ông gìn giữ tươi mới quanh năm nên dần dần thành địa chỉ ấn tượng “Nhà ông có cột cờ đỏ trước sân”.

Ai vốn sẵn tâm tính hồn nhiên thì dẫu tuổi thất thập rồi người ta vẫn trẻ. Suốt từ sáng đến giờ ông Hằng vẫn say sưa bên chiếc điện thoại, người lắc lư theo nhịp điệu chuyện trò. Hoa nắng từ vườn cây nhảy múa lấp loáng trên lưng áo ông. Bà Hằng hậm hực đi qua đi lại ngoài sân: “Còn chưa nhổ rễ cho heo ăn nữa à? Tiền điện thoại bằng mấy tháng thương binh của ông rồi, không xót à?”. Đàn heo trong chuồng đến giờ ăn nhận ra tiếng chủ đồng thanh eng éc inh ỏi. “Thôi, đến giờ làm kinh tế rồi nhá… Ừ, phải nhờ gia súc gia cầm VAC chứ sao… Tạm biệt nhá”.

***

Sáng hôm nhờ con trai cả chở ông lên huyện tập trung cùng đoàn cựu chiến binh ra thăm nghĩa trang Trường Sơn. Bà Hằng đứng bên rặng tre trước ngõ, hun hút nhìn theo bóng hai bố con xa dần theo bờ kênh. Gió từ cánh đồng thốc thổi vào lưng bời bời lạnh, bà thương chồng…Thương cả cô ấy nữa…

Năm 1966 ông Hằng nhận lệnh đi B gấp, mẹ thương ông lính quýnh giục: “Không kịp làm đám cưới thì cũng có lời dạm hỏi trước với người ta con ạ”. Biết mẹ đang nén khóc, nén cả tiếng thở dài tính hạnh phúc cho mình, lòng ông càng ngổn ngang: “Thôi khoan đã mẹ, chẳng biết khi nào con về mà bắt cô ấy phải đợi”. Bà dỗ dành: “Mẹ có một chỉ vàng đã đánh sẵn hai cái nhẫn dành cho con cưới vợ, hay là để mẹ sang xin với họ?” Hiểu lòng mẹ ông vội thưa: “Hay mẹ… cho con xin một cái tặng Nhã làm kỉ niệm? Đợi dịp con được về phép hẵng tính chuyện mẹ ạ”.

Ngày lên đường Nhã  đi cùng ông tận cuối làng. Ông bối rối ấp úng mãi: “Mẹ đưa cho anh hai cái nhẫn… Anh không kịp sắm lễ ăn hỏi em. Bộ đội chẳng cần đeo nhẫn đâu, nhờ em giữ luôn hai cái cho nó có đôi. Nếu chờ được anh về chúng mình làm đám cưới được không em?” Nhã sụt sùi khóc, còn ông run run đeo nhẫn vào ngón tay áp út cho người yêu.

***

Buổi chiều chạng vạng năm 1970, trong rừng Trường Sơn, ông cùng hai cán bộ tiểu đoàn trên đường đi thị sát đang về sở chỉ huy, chiếc xe luồn dưới vòm cây săng lẻ. Đêm xuống nhanh, bóng tối bắt đầu phủ cung đường. Trên trời máy bay địch thả những dải pháo dù ngoằn nghèo lơ lửng màu ánh sáng ma trơi. Chiếc xe vẫn tiếp tục đi, bỗng… Một quầng lửa đột ngột chói lòa kèm theo tiếng nổ long óc, mặt đất rung chuyển…Ông Hằng thấy mình bị hất lên…

Thế rồi chập chờn…Nghe tiếng âm u văng vẳng…Tiếng người rõ dần. Từ từ ông cảm nhận vật gì mềm mại vừa di nhẹ trên trán. Tiếng lao xao lúc xa, lúc gần…“Đâu…Đâu nào?” “Đây này nhanh lên, tao vừa lội xuống thì chạm ngay vào đầu anh ấy… Vẫn còn thở chúng mày ạ”. “Mau, khiêng về trạm xá”. “Đồng chí này chắc đi cùng chuyến xe…Tội quá họ hi sinh hết”…Ông tiếp tục lịm đi trên tay các cô gái…

Vết thương nặng ở đầu buộc phải chuyển ông từ trạm xá này đến trạm xá khác. Cuối cùng người ta phải gửi ông ra miền Bắc chữa trị. Sức khỏe dần dần bình phục, ông được xuất ngũ về địa phương sống cùng với mẹ. Trái tim ông khắc khoải buốt nhói mỗi khi nhớ những gương mặt đồng đội thân yêu đã cùng ông đi trên chuyến xe định mệnh. Thỉnh thoảng ông để con cháu, bạn bè tò mò sờ lên vết thương trên đầu, vùng xương sọ gần bằng mấy ngón tay bị lõm xuống: “Cứ ấn tự nhiên không sao… Ừ mềm nhỉ… Có thấy giống mỏ ác em bé mới sinh không?” Mọi người vừa cười vừa gật, ông đùa tiếp: “Nên tôi chẳng thể già, cứ được trẻ mãi là thế đấy”. Giọng ông hài hước kể: “Khi vừa mới tỉnh mở được mắt… Hình như … Màu da thịt trắng trẻo của ai đang di trên trán mình… Lờ mờ rồi nhận ra… Ôi cái mông của cô thanh niên xung phong? Đúng, nhờ cô ấy phát hiện mình nên đã gọi thêm người đến cứu. Chắc nhờ có hơi con gái mà tôi mau tỉnh và thoát chết…” Ông sang sảng cười giòn. Chẳng biết chuyện ấy hư thực thế nào nhưng mọi người thích nghe ông kể vì dí dỏm cuốn hút và nụ cười luôn lạc quan. 

Di chứng vết thương trên người ông là những cơn đau đầu dữ dội khi trời chợt nắng mưa bất thường…Tính khí ông nhiều khi cũng nóng giận bất thường. Nhưng cơn đau qua rồi lại hiền như mưa phùn mùa xuân, mát rượi như mưa rào mùa hạ, ông tự khen như thế trong thơ mình sáng tác.

***

Lúc về quê dưỡng bệnh ông mới biết tin, khoảng nửa năm sau khi đi B, Nhã cũng tình nguyện đi thanh niên xung phong xin vào hỏa tuyến. Mẹ của ông kể: “Trước ngày lên đường Nhã có đến nhà thưa: Mẹ ơi con muốn vào miền Nam hi vọng sẽ gặp được anh Hằng, nếu có tin vui con sẽ báo liền cho mẹ đỡ trông. Thấy nó quyết tâm đi chẳng ai ngăn được con ạ.”

Lòng dạ hướng về người yêu và đồng đội, đêm nào ông cũng dò sóng radio để nghe tin tức trong chiến trường. Vào một đêm đã khuya, cô phát thanh viên Đài Tiếng nói Việt Nam đọc bản tin về đơn vị thanh niên xung phong đa số đều cùng quê tỉnh H: “…Họ đã bị trúng bom Mĩ rải tọa độ… Nơi đó là cung đường độc đạo rất ác liệt. Cả đơn vị anh dũng hi sinh khi đang thông đường cho xe qua. Tiểu đội trưởng là Trần Thị Thanh Nhã…”. Ông Hằng ù tai ngực thắt lại, cảm giác như trôi về phía không trọng lượng… Ông lắp bắp gọi mẹ… Bị đánh thức đột ngột mẹ  hoảng hốt nghe tiếng con trai: “Hình như… Nhã của con hi sinh rồi mẹ ơi…”. Hai mẹ con chìm rơi giữa một khoảng lặng…Giọng mẹ run rẩy chới với: “Vậy là đúng rồi… Nó hi sinh thật rồi”. Ông tuyệt vọng yếu ớt hỏi: “Sao mẹ biết?.. Ai đã báo tin này cho mẹ?”  Giọng bà như khóc: “Không có ai… Tại cách đây ba hôm, mẹ nằm mơ thấy con Nhã về người đầy máu, nó tức tưởi nói… Mẹ ơi con bị trúng bom… Ngón tay con vẫn đeo hai cái nhẫn mẹ tặng rồi nó gục ngay dưới chân mẹ… Sợ con lo nghĩ, mẹ không dám kể lại cơn ác mộng. Mấy hôm nay lòng dạ mẹ bồn chồn chẳng yên”. Vừa nghe mẹ kể nước mắt giàn dụa dìm cả người ông lịm đi… 

Từ đó ông lặn lội ngược xuôi cố dò tìm tin tức về Nhã. Tình cờ một hôm đến trạm an dưỡng khám theo định kì, ông Hằng gặp một thương binh. Chuyện trò thăm hỏi không ngờ được biết, người này ở đơn vị công binh đã tham gia chôn cất các nữ thanh niên xung phong tiểu đội của Nhã: “Riêng cô ấy, tìm suốt mấy ngày vẫn không thấy. Đến ngày thứ năm, nghe tiếng quạ kêu ở góc rừng cách xa mấy hố bom, thử  đến nơi thì thấy xác cô ấy nằm cạnh gốc cây Duối già…Thương lắm, trên ngón tay áp út còn nguyên hai chiếc nhẫn cưới...”. Thế là dập tắt những hi vọng cuối cùng trong ông. Thế là điềm báo trong giấc mộng của mẹ đã linh ứng. Thế là trong khoảnh khắc đó rợn cảm giác đau thương và bất lực… Ngực ông đột ngột nhói lên từng cơn quặn thắt. 

Mấy tuần sau làng trên xóm dưới râm ran chuyện cô Nhã được tổng đội Thanh niên xung phong đề nghị truy tặng danh hiệu anh hùng. Mẹ ông ngập ngừng: “Hay ta lập bàn thờ cho Nhã được không con?”

Ông buồn bã thưa: 

- Yêu thương cô ấy con muốn giữ mãi trong lòng. Mấy ai đã kịp biết Nhã là vợ sắp cưới của con? Nếu cô ấy được phong anh hùng, biết đâu người ta lại nghĩ mình thấy sang bắt quàng làm họ?

Bà Hằng là hàng xóm ở gần cạnh nhà thường ghé thăm và trò chuyện với hai mẹ con ông. Bà Hằng xúc động khi nghe chuyện tình yêu của ông và cô Nhã. Càng ngày bà càng thấy yêu quý và muốn gắn bó chăm sóc ông hơn… Rồi họ nên vợ nên chồng.

***

Cách đây mấy năm hài cốt của Nhã được đồng đội quy tập về nghĩa trang Trường Sơn. Nhân dịp kỉ niệm năm mươi năm, ông Hằng được đi cùng đoàn cựu chiến binh trở về viếng mộ nữ liệt sĩ ấy. Và cũng lần đầu tiên đồng đội được nghe kể về mối tình đầu với “Em là trinh nữ” mà ông Hằng đã trải lòng đặt tựa cho bài thơ rưng rưng đọc trước mộ nàng.

 Bước từ miền nhớ nhung xa thẳm ông lại trở về khoác áo lão nông. Vợ con  thấu hiểu và thầm lặng giúp ông. Bằng những cuộc điện thoại thăm hỏi ân tình nhiệt thành đồng đội, bằng những buổi đàn hát ngâm thơ, bằng tiếng cười rộn rã tỏa ấm khu vườn mà hồi ức ông từng ám ảnh vì hứng chịu bao nhiêu dư chấn từ Trường Sơn…

H.N.L