KỶ NIỆM 43 NĂM THÀNH LẬP HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT ĐỒNG NAI (22/12/1979 - 22/12/2022) - CHÀO MỪNG NHỮNG NGÀY LỄ LỚN NĂM 2022 - Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh!
Những nguồn lực phát triển mỹ thuật ở một đô thị lớn


Bài viết của Đoàn Minh Ngọc​

(Nguồn: Tạp chí VNĐN số 50 - tháng​ 4/2022)



Vị thế Thành phố Hồ Chí Minh là một đô thị trung tâm phía Nam, đã có từ thế kỷ XVI khi chúa Nguyễn khai phá, liên tục được tăng cường giá trị trung tâm của đất nước. Đến năm 1986 và về sau thì vị thế này còn gia tăng mạnh mẽ, một trong những đô thị nổi tiếng ở Đông Nam Á. Chính vì vậy, nhiều họa sĩ tài năng từ khắp mọi miền về sống và sáng tạo nghệ thuật tại nơi này (nhóm họa sĩ đã hoạt động nghề nghiệp ở Sài Gòn trước năm 1975 còn lại, nhóm họa sĩ tham gia kháng chiến từ chiến trường trở về, nhóm họa sĩ miền Nam tập kết trở về, nhóm họa sĩ chuyển vào Nam công tác, nhóm họa sĩ được đào tạo tại các trường phía Nam và nhóm họa sĩ được đào tạo từ nước ngoài về). Từ đó đã tạo ra những sắc thái mới trong Văn hóa - Nghệ thuật ở Thành phố Hồ Chí Minh rất đa dạng và phong phú.   

*Yếu tố địa văn hóa 

Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, dưới con mắt các nhà địa lý là nơi phong thổ lý tưởng, đã được chọn xây dựng làm thủ phủ của miền Nam. Nơi đây có hệ thống sông Đồng Nai bao trùm khu vực, sông Lòng Tàu, sông Nhà Bè và đặc biệt sông Sài Gòn là cảng lớn thông thương với biển, dễ dàng ra Bắc vào Nam và giao lưu quốc tế. Sông Sài Gòn với độ sâu có thể tiếp nhận các tàu biển trọng tải trên 30.000 tấn, một ưu thế hiếm có trên thế giới đối với một thành phố lớn ở sâu trong nội địa. Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á. Với cái nhìn của các thương gia, kỹ nghệ gia thì Thành phố Hồ Chí Minh chính là nơi lý tưởng cho công nghệ phát triển, thuận lợi cho buôn bán dịch vụ với miền Tây, miền Đông, cả nước và nước ngoài.

Sài Gòn vốn là mảnh đất đứng ở giao điểm các luồng văn minh. Khi thủ phủ Gia Định được thành lập, Sài Gòn là nơi hội tụ giữa các dòng văn hóa Bắc và Nam, đồng thời tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại. Từ rất sớm nơi đây trở thành trung tâm thương mại sầm uất, giao lưu với nước ngoài rất nhộn nhịp và là nơi phát triển mạnh các nghề thủ công mỹ nghệ. Ở khu vực Đông Nam Á, Sài Gòn là một trong những nơi tiếp xúc sớm nhất kỹ thuật của châu Âu. Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, Sài Gòn trở thành trung tâm quan trọng, cả về hành chính lẫn kinh tế, văn hóa, giáo dục của Liên bang Đông Dương thuộc Pháp, được Pháp mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông” hoặc một “Paris nhỏ ở Viễn Đông”

Trong thời cận đại và hiện đại, trong suốt một thời gian dài vùng đất Nam bộ lại chịu ảnh hưởng của văn hoá Pháp rồi tiếp đó là văn hoá Mỹ. Tất cả đã biến Nam bộ thành một vùng đất mà giao lưu, tiếp biến văn hoá diễn ra với tốc độ rất nhanh. Hệ quả là hầu như không có hiện tượng văn hoá nào ở nơi đây còn nguyên chất thuần Việt mà luôn có bóng dáng của những nền văn hoá khác, đã hội tụ nơi đây trong hơn ba thế kỷ qua. Có thể nói: “bên cạnh những đặc trưng chung của văn hoá Việt, văn hoá Nam bộ có thêm một đặc trưng mới là sự giao thoa văn hoá, là nơi hội tụ giữa các dòng văn hóa Bắc và Nam, đồng thời tiếp thu những tinh hoa của văn hóa nhân loại” [1, tr.48]. Đặc trưng này khiến cho văn hoá Nam bộ vừa tương đồng lại vừa khác biệt với văn hoá Việt ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ.

Sức thu hút mạnh mẽ của Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay chính là sự tiếp tục các đặc trưng “thân thiện, bao dung, cởi mở” của Sài Gòn hàng trăm năm trước và thêm “sự năng động, mạnh mẽ đi đầu” thời hội nhập quốc tế... Sức hút của Thành phố trẻ năng động thân thiện không chỉ trên bình diện kinh tế đầu tư, mà còn trên nhiều lĩnh vực trong đó có nguồn nhân lực và văn hóa. Chính yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đối với Văn hóa - Nghệ thuật.  

Văn hóa Sài Gòn - Gia Định hình thành khoảng hơn 300 năm, nó mang trong mình những sắc thái văn hóa tiêu biểu của Nam bộ, là đô thị mới, đầu mối của các giao lưu chủng tộc và văn hóa, là trung tâm văn hóa của cả Nam bộ. Tuy nhiên, quá trình hình thành văn hóa của Sài Gòn - Gia Định và mối quan hệ của nó với các vùng khác của Nam bộ có nét khác với Hà Nội và Huế. Do vậy, nếu Hà Nội có vẻ cổ kính, trầm tư và hướng nội, thì Sài Gòn trẻ trung, năng động và hướng ngoại hơn. Đó cũng là một diện mạo tính cách riêng của người Thành phố Hồ Chí Minh và cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến Văn hóa - Nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Khi đất nước mở cửa và đổi mới, các họa sĩ hải ngoại cũng bắt đầu giao lưu thường xuyên với họa sĩ trong nước hoặc về nước sáng tác và tổ chức triển lãm như Vũ Cao Đàm, Điềm Phùng Thị, Thái Tuấn, Đình Cường…, đã tạo thêm sự phong phú cho hoạt động mỹ thuật tại Thành phố Hồ Chí Minh. Có thể nói, sự tập trung đông đảo họa sĩ, nhà điêu khắc cùng với sự đa dạng hoá các loại hình hoạt động mỹ thuật của Hội Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo nên diện mạo mỹ thuật Thành phố trong thời kỳ đổi mới, và cũng là những yếu tố thúc đẩy sự phát triển các ngành nghệ thuật khác. Theo thống kê của Art Diary 1996-1997 do Hội Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 1997: Từ năm 1990 đến năm 1996 có nhiều nghệ sĩ các nước đến giao lưu và họa sĩ Việt Kiều từ Pháp, Na Uy, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Mỹ, Canada, Úc, Singapore, Trung Quốc, Mông Cổ, Hàn Quốc, Nhật Bản đến Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức triển lãm nhóm và triển lãm cá nhân rất nhiều. Đồng thời, từ năm 1990 đến năm 1996 các họa sĩ Thành phố Hồ Chí Minh cũng thường xuyên tổ chức triển lãm ở nước ngoài như họa sĩ Nguyễn Trung, Hồ Hữu Thủ, Trịnh Thanh Tùng, Huỳnh Phương Đông, Nguyễn Thị Tâm, Nguyễn Lâm, Quách Phong, Trịnh Cung, Đỗ Hoàng Tường, Trương Hán Minh, Lý Khắc Nhu, Đào Minh Tri,... [3, tr.152].

Hoạt động sáng tác mỹ thuật ở Thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ đổi mới, bên cạnh các họa sĩ sáng tác theo xu hướng trừu tượng, ấn tượng, hiện thực, siêu thực còn có sự hiện diện thể loại tranh thủy mạc của các họa sĩ Câu lạc bộ mỹ thuật người Hoa, các công trình điêu khắc tượng đài, tượng công viên của các nhà điêu khắc...Với chính sách đổi mới và hội nhập đã mở ra một bước ngoặt mới về lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã hội, trong đó có mỹ thuật. Sự cải thiện rõ nét về kinh tế, sự thức tỉnh về tư duy, lòng tự hào dân tộc đã làm cho lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh thấy rằng môi trường sống của xã hội cần phải đổi mới nhiều hơn và từng bước củng cố, xây dựng mới về Văn hóa - Nghệ thuật.

Sau năm 1986, nhiều nhóm họa sĩ được đào tạo bài bản từ các nước Đông Âu XHCN, nhiều nhóm họa sĩ đào tạo từ các nước Pháp, Anh, Mỹ, nhiều nhóm họa sĩ từ chiến trường về,... Nghệ thuật của họ còn là tâm tình, trải lòng với cuộc sống, do vậy chính yếu tố chủ quan của mỗi nghệ sĩ trong sáng tạo đã ngẫu nhiên trở nên sắc thái đa diện của nghệ thuật. Sự phong phú và đa dạng đó được cấu thành bởi một số họa sĩ đã hoạt động nghề nghiệp ở Sài Gòn trước năm 1975 còn lại như: Đỗ Quang Em, Hồ Hữu Thủ, Trịnh Cung, Nguyễn Lâm, Lê Minh Ngữ, Uyên Huy…; một số anh em họa sĩ tham gia kháng chiến từ chiến trường đã trở về như: Quách Phong, Cổ Tấn Long Châu, Trang Phượng, Nguyễn Thanh Châu, Phan Mai Trực…; thêm vào đó còn có một lực lượng họa sĩ miền Nam tập kết trở về như: Hoàng Trầm, Phạm Văn Tâm, Lê Thanh Trừ, Trần Văn Phú, Nguyễn Thanh Minh, Nguyễn Hoàng, Ca Lê Thắng…; và một số họa sĩ chuyển vào Nam công tác như: Trịnh Kim Vinh, Đào Minh Tri, Nguyễn Bích Trâm, Phạm Đỗ Đồng, Tạ Diệu Hương,…Có thể khẳng định rằng, lực lượng họa sĩ phong phú với nhiều nguồn tập trung về như trên chỉ có ở Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng cho đến nay.  

*Yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội  

Sự phát triển của nghệ thuật tưởng như ít liên quan đến những vấn đề thời sự của đất nước, nhưng thực tế lại hoàn toàn khác. Vấn đề mang tính biện chứng là họa sĩ luôn luôn ý thức trách nhiệm công dân (dù ở mức độ khác nhau). Trong thực tế, chúng ta đã chứng kiến nhiều họa sĩ những khóa đầu của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tình nguyện vác ba lô lên chiến khu. Trong kháng chiến chống Mỹ hàng trăm họa sĩ từ Đại học Mỹ thuật Hà Nội, Đại học Mỹ thuật công nghiệp Hà Nội đi vào chiến trường miền Nam tham gia kháng chiến... Chúng ta cũng đã chứng kiến trường hợp của họa sĩ Lê Bá Đảng, từ một thanh niên Việt bị bắt đi lính tham gia chiến tranh chống Phát xít Đức, sau này làm họa sĩ sống ở Paris, nhưng tác phẩm của ông phần lớn chỉ vẽ về những hoài cảm, hình tượng liên quan đến quê hương đất mẹ Việt Nam như tác phẩm “Hậu quả chiến tranh”, “Không gian ký ức”. Chúng tôi cho rằng mỹ thuật là một nghệ thuật thị giác, dù cho ngày nay “sự nhìn” của họa sĩ có thể siêu hình nhưng thế giới khách quan, hiện thực, môi trường sống, thiên nhiên vẫn chiếm một vị trí cực kỳ quan trọng.

 Một số sự kiện kinh tế, khoa học, công nghệ quan trọng được xem như những động lực tác động đến mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có mỹ thuật như: (1) Chủ trương đổi mới toàn diện kinh tế xã hội theo Nghị quyết TW 6/Khóa 6/1986. (2) Việt Nam hòa nhập mạng Internet thế giới vào năm 1994. (3) Việt Nam và Hoa Kỳ ký kết hiệp định bình thường hóa quan hệ từ năm 1977. (4) Việt Nam gia nhập tổ chức kinh tế khu vực ASEAN từ năm 1995. (5) Việt Nam tham gia WTO từ năm 2007... Riêng đối với mỹ thuật những sự kiện trên đã tạo ra một môi trường sáng tạo mới, không gian mới, giúp khai thông cả về mặt chính sách, thông tin đa dạng, cơ hội giao lưu nghệ thuật, quảng bá, học hỏi lẫn nhau của họa sĩ trong nước và nước ngoài. 

Những chuyển biến mạnh mẽ của nền kinh tế theo cơ chế thị trường dẫn đến nhiều biến đổi trong đời sống xã hội. Các hoạt động sáng tác văn học - nghệ thuật của giới nghệ sĩ chủ yếu tập trung ở những đô thị lớn trong cả nước như: Hà Nội, Huế và đặc biệt là ở Thành phố Hồ Chí Minh, nơi mà dấu ấn của chính sách kinh tế bao cấp chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn (1975-1986). Với những biến đổi và ứng dụng rộng rãi thành tựu của khoa học công nghệ trong sản xuất công - nông nghiệp, trong thương mại - dịch vụ, trong thông tin - liên lạc, sự giao lưu văn hóa nghệ thuật giữa Thành phố với các nước trong khu vực ngày càng nhanh chóng và thuận lợi, là những nhân tố thuận lợi tạo nên sự biến đổi về mọi mặt tâm lý, nhận thức cũng như nhu cầu hưởng thụ văn hóa nghệ thuật của người dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Khi kinh tế phát triển cùng với sự mở rộng giao lưu quốc tế đã tạo nên cơ sở khách quan cho sự chuyển đổi quan niệm về thẩm mỹ. Tinh thần dân chủ, tự do sáng tạo được tôn trọng và cởi mở. Nhờ đó mà nhiều thành tựu mới trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật như kiến trúc, hội họa, điêu khắc…, đã khẳng định, góp phần làm sống động đời sống văn hóa, nghệ thuật ở Thành phố Hồ Chí Minh. Từ những năm 1990, khi xuất hiện nhiều cuộc triển lãm của các họa sĩ cách tân được tổ chức ở Việt Nam và nước ngoài như: Hồng Kông, Úc, Pháp, Mỹ, Hà Lan..., thì khái niệm Hội họa Đổi mới (Doimoi Painting) hay Nghệ thuật Đổi mới (Doimoi Art) được chào đón nồng nhiệt và được coi là một phát hiện của hội họa châu Á.

Thành phố Hồ Chí Minh được mệnh danh là một Thành phố trẻ trung, năng động trong quá trình phát triển kinh tế cũng như các lĩnh vực khác của đời sống xã hội và ngày càng được phát huy hơn trong thời kỳ đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đó, người dân Thành phố đã có một cuộc sống vật chất và tinh thần ổn định, sung túc và cũng chính sự tăng trưởng về kinh tế đã tạo tiền đề cho sự phát triển của xã hội ở những lĩnh vực: giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, thể thao... Điều này đã nói lên được phần nào vấn đề vì sao mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đã có sự thay đổi phong phú và đa dạng trong thời kỳ đổi mới nhanh hơn so với các tỉnh và khu vực khác của cả nước. Chính những chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế, chính trị, xã hội đã ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của đời sống xã hội, văn hóa - nghệ thuật tại Thành phố Hồ Chí Minh. 

Đ.M.N