CHÀO MỪNG NHỮNG NGÀY LỄ LỚN NĂM 2022 - Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh!
CÂU CHUYỆN PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG VÀ THỂ CHẾ?

 

 Bài viết của Trần Thu Hằng

(Nguồn: Tạp chí VNĐN số 50 - tháng​ 4/2022)


- Tóm tắt: Tham nhũng là một vấn nạn lớn đối với mọi nhà nước, mọi thời đại, và việc chống tham nhũng luôn là vấn đề quan trọng của các quốc gia trên thế giới. Việt Nam ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng bằng cách nào? Và trả lời như thế nào với quan điểm cho rằng đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam không bao giờ thành công vì không thể giải quyết vấn đề “chể thế” – cái gốc của tham nhũng?

- Từ khóa: chống tham nhũng, thể chế, nhà nước, quyền lực chính trị


IMG_2334.JPG
Tác phẩm "Quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng" của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng

 

Tham nhũng là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để hưởng lợi trái pháp luật, gây thiệt hại cho tài sản của nhà nước, tập thể, cá nhân; xâm phạm và chi phối hoạt động đúng luật của các cơ quan, tổ chức; đó cũng là một loại “quyền lực” xấu có thể thao túng và lũng đoạn nhiều lĩnh vực trong đời sống, nhất là những lĩnh vực có thể mang đến những lợi ích to lớn về vật chất.

Vì vậy, từ bao đời nay, tham nhũng luôn bị coi là một loại tội phạm, và việc chống tham nhũng luôn là vấn đề quan trọng của các quốc gia trên thế giới. Việc tạo hành lang pháp lý để ngăn chặn tội phạm tham nhũng cũng là điều hết sức cần thiết đối với cộng đồng quốc tế, thông qua các Điều ước quốc tế đã và đang được xây dựng.

1. Các nước đều phải tuyên chiến với tham nhũng, nhưng bằng nhiều cách khác nhau:

Điểm qua một số nước trên thế giới để thấy được chính phủ các nước đối đầu với tham nhũng như thế nào:

- Singapore là nước Cộng hòa nghị viện, có diện tích và dân số rất khiêm tốn, nhưng có nền kinh tế phát triển lớn mạnh, và một quyết tâm “diệt tham nhũng” từ rất sớm. Một phần quan trọng trong chiến lược của Singapore là giải quyết nguyên nhân gốc rễ của tham nhũng: cải thiện liên tục tiền lương và điều kiện làm việc của công chức nhà nước. Luật pháp Singapore nghiêm ngặt, nhiều chế tài đối với công chức đang làm việc và đến lúc nghỉ hưu để loại trừ khả năng có thể phát sinh tham nhũng.

Quyền lực chính trị của chính phủ Singapore thực tế cũng được tập trung trong tay đảng cầm quyền một cách lâu dài, bền vững, và có sự kế thừa, tiếp nối; vì vậy quyền lực chính trị của Singapore đủ mạnh để duy trì nền văn hóa “phi tham nhũng” một cách hiệu quả.

- Trung Quốc lại là một đất nước có diện tích rộng lớn và dân số đông nhất thế giới, nên có rất nhiều vấn đề cần giải quyết cả trong đối nội và đối ngoại. Bên cạnh đó là định hướng phát triển Chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc mà quyền lực chính trị tập trung trong tay Đảng Cộng sản Trung Quốc. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã phát động chiến dịch chống tham nhũng rộng lớn và quyết liệt với tên gọi “đả hổ, diệt ruồi” và mang lại những kết quả rõ rệt (cấp  Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương… cũng đã phải hầu tòa). Không chỉ chú trọng ở các vị trí lãnh đạo cấp cao, Trung Quốc mở rộng vấn đề kê khai tài sản, phòng, chống tham nhũng ở cấp cơ sở[1].

- Nhật Bản và Hàn Quốc là hai quốc gia châu Á đều chịu ảnh hưởng rất lớn của đạo đức và văn hóa Khổng giáo, đều áp dụng rất nghiêm pháp luật, nhưng lại có cách tổ chức phòng, chống tham nhũng (PCTN) rất khác nhau:

Nhật Bản giữ thể chế quân chủ lập hiến, quyền lực chính trị theo kiểu tam quyền phân lập rõ ràng. Đất nước này không có Luật phòng, chống tham nhũng, không có cơ quan chuyên trách về PCTN và cũng không có cơ quan thanh tra quốc gia (do số lượng vụ việc ít nên không cần thiết thành lập?) Song Nhật Bản được đánh giá là quốc gia có khung pháp lý mạnh mẽ, và xử rất nghiêm tội tham nhũng; đồng thời quan trọng đến đạo đức và nhận thức cá nhân trong ý thức phòng ngừa tham nhũng. Tham nhũng hầu như rất ít được ghi nhận trong doanh nghiệp, và không có trong lực lượng cảnh sát. Kinh nghiệm cho thấy công tác thanh tra nội bộ được thực hiện rất sát sao để phòng ngừa, và quyền lực của tòa án đủ mạnh để hạn chế tội tham nhũng [2].

Hàn Quốc theo chế độ Cộng hòa đại nghị, ứng đầu là Tổng thống; cơ quan Tư pháp độc lập với cơ quan hành pháp và cơ quan lập pháp. Hàn Quốc lập ra hàng trăm ủy ban liên quan đến tranh tra, kiểm tra công vụ và PCTN, bên cạnh Luật chống tham nhũng còn có nhiều bộ luật khác. Chính phủ cam kết chính trị mạnh mẽ, quyết liệt; tầm nhìn chiến lược và chương trình hành động nhất quán, rõ ràng về PCTN (một Tổng thống đương nhiệm bị truất phế và hầu tòa vì tội lạm quyền và nhận hối lộ). Viện Công tố Hàn Quốc là cơ quan có vai trò đặc biệt trong PCTN, đây là cơ quan duy nhất có quyền buộc tội đối với các bị can trong các vụ án hình sự, trong đó có tội tham nhũng. Hệ thống pháp luật là cơ sở pháp lý cho công cuộc chống tham nhũng của Hàn Quốc [3].

- Malaysia và Thái Lan đều là các nước theo chế độ quân chủ, và đã từng chịu hậu quả kéo dài của nạn lạm quyền và tham nhũng, đến nay đã có một số chuyển biến như sau:

Malaysia là nhà nước quân chủ lập hiến liên bang theo Hồi giáo, nhưng Thủ tướng là người nắm quyền lực chính trị cao nhất. Malaysia đã phải đối mặt với nhiều cuộc khủng hoảng chính trị; song chính phủ Malaysia đang nỗ lực đẩy mạnh chiến dịch chống tham nhũng bằng công khai tài sản và sự tham gia của truyền thông. Nguyên Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad từng nói: “Chỉ có thể đấu tranh chống tham nhũng thành công khi các nhà lãnh đạo cao nhất miễn nhiễm với căn bệnh trầm kha này” [1].

Thái Lan là nhà nước quân chủ lập hiến theo Phật giáo, Quốc vương là nguyên thủ Quốc gia và là Tổng tư lệnh quân đội, Thủ tướng là người đứng đầu Quốc hội. Tham nhũng đã từng châm ngòi cho những bất ổn về chính trị kéo dài tại quốc gia này, trong đó nhiều Thủ tướng đã bị cáo buộc tội danh này, song Quốc vương vẫn được coi là “bất khả xâm phạm”. Với Luật Chống tham nhũng mới, và đặc biệt là định nghĩa mở rộng của các pháp nhân (cả người đưa và người nhận hối lộ), cho thấy chính phủ Thái Lan đang nỗ lực giải quyết vấn đề tham nhũng tại nước này. Luật Chống tham nhũng ở Thái có mức hình phạt cao nhất lên đến tử hình[4].

2.Thể chế có phải là cái gốc của tham nhũng?

Việt Nam từ ngày thành lập nước (02/9/1945) đến nay kiên định đi theo con đường Độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội. Và trong khi Việt Nam đang nỗ lực xây dựng đất nước với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”, thì có nhiều quan điểm không thân thiện, thậm chí thù địch đang soi vào công cuộc PCTN và coi đây như là “cửa tử”, hay là “gót chân Achilles” khi cho rằng: Đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam không bao giờ thành công vì không thể giải quyết vấn đề “chể thế” – cái gốc của tham nhũng (!)

Tuy nhiên, tham nhũng không phải là câu chuyện riêng của một nước nào trên thế giới, bởi tham nhũng được thừa nhận là một loại quyền lực được sinh ra trong lòng quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị. Và nó là một loại “quyền lực phản quyền lực”, chống lại những quy định của pháp luật để mưu lợi bất chính, song bằng những thủ đoạn tinh vi, được ngụy trang rất khéo. Quyền lực chính trị càng lớn thì sự tiềm ẩn về tham nhũng, lạm quyền càng lớn, bất kể chế độ nhà nước nào. Như vậy, tham nhũng là “sản phẩm nội sinh” của mọi thể chế quốc gia, trong vỏ bọc của nhiều hình thức, cách thức khác nhau, mà mỗi nước phải có cách nhận diện và ứng phó khác nhau, nhưng đều vì một mục đích chung, đó là: chống tham nhũng để bảo vệ thể chế, bảo vệ quốc gia dân tộc và đảm bảo cho người dân được sống trong một môi trường chính trị minh bạch, công chính. Chỉ có thể sử dụng quyền lực của hệ thống chính trị để đấu tranh và đẩy lùi tham nhũng, trong đó Nhà nước là một tổ chức quyền lực đặc biệt dùng luật pháp để thực hiện.

Trong mối quan hệ giữa quyền lực chính trị và phòng, chống tham nhũng, thì quyền lực chính trị vừa là phương tiện, vừa là mục đích phòng, chống tham nhũng. Ranh giới giữa quyền lực chính trị và tham nhũng cũng rất mong manh, bởi nhiều lẽ: người tham nhũng lần đầu có khi không ý thức được là mình vi phạm; người tham nhũng nhiều lần vì bị lòng tham chi phối; “lợi ích nhóm” về lâu về dài như chiếc vòi bạch tuộc khiến tham nhũng trở nên có tổ chức và ngày càng phát triển thêm; tham nhũng khi đã đủ mạnh có thể chiếm đoạt quyền lực chính trị và chi phối quyền lực chính trị từng phần cho đến toàn phần… Trong bài viết “Tham nhũng nhất định phải được ngăn chặn và từng bước đẩy lùi, xây dựng Đảng, Nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh (ngày 05/5/2014), đồng chí Nguyễn Phú Trọng - Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam, nguyên Chủ tịch nước cũng khẳng định : “Đấu tranh PCTN là công việc rất quan trọng, liên quan đến sự phát triển bền vững của đất nước, của chế độ, nhưng cũng cực kỳ khó khăn, phức tạp. Bởi tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, nó diễn ra trong nội bộ chúng ta, liên quan đến lợi ích vật chất, tiền tài, danh vọng của tổ chức và cá nhân con người; đụng chạm đến những người có chức, có quyền…”[5 - tr 47].

Cũng từ những bài học kinh nghiệm về phòng, chống tham nhũng của các nước trên thế giới cho thấy: Mỗi nước có cách tổ chức quyền lực chính trị khác nhau, và cách sử dụng quyền lực này để phòng chống tham nhũng cũng khác nhau. Theo giáo trình Chính trị học, quyền lực chính trị là quyền lực của một giai cấp (hay một liên minh giai cấp), của một lực lượng xã hội. Bản chất của quyền lực chính trị là quan hệ sức mạnh giữa các giai cấp trong việc giành, giữ, thực thi quyền lực nhà nước, hoặc gây áp lực đối với quyền lực nhà nước” [6 - tr 54]. Ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng chính là củng cố quyền lực chính trị của đảng cầm quyền, cũng là thước đo về uy tín, sức ảnh hưởng của đảng đối với đời sống chính trị - xã hội của đất nước; và là đại diện của đất nước mình trên thế giới.

Một trong những đặc điểm chung của nhiều thể chế quốc gia khác nhau (các nước theo mô hình “tam quyền phân lập”, theo chế độ đại nghị, tổng thống chế hay nhà nước quân chủ lập hiến…) đều nêu cao tinh thần “thượng tôn pháp luật” và cho đó là thước đo của hiệu quả điều hành, quản lý đất nước. Những quan điểm có tính phản biện chế độ Xã hội chủ nghĩa ở nước ta cũng dựa vào đặc điểm này để quy kết Việt Nam là một thể chế “cộng sản toàn trị”. Từ điểm so sánh này khẳng định là Việt Nam thiếu dân chủ, tự do, thiếu hiệu lực pháp luật, lấy đặc quyền của Đảng cộng sản để quyết định các vấn đề của quốc gia, dân tộc v.v… và v.v…

Như vậy, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có phải là thể chế “cộng sản toàn trị” không, và thể chế hiện hữu có phải là gốc của vấn nạn tham nhũng không?

Ở góc độ một chính đảng với đường lối chính trị kiên định, thì Đảng cộng sản Việt Nam là một liên minh giai cấp có năng lực áp đặt và thực thi các giải pháp nhằm duy trì và phát triển tổ chức đảng của mình. Bên cạnh đó, Đảng luôn định hướng, điều chỉnh và kiểm soát hành vi chính trị của các cá nhân và tập thể trong và ngoài đảng. Đảng đại diện chính thể quốc gia (hoặc định hướng cho đại diện chính thể quốc gia) trong các hoạt động trên trường quốc tế… Như vậy, nhìn chung Đảng lãnh đạo một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội…, vừa thể hiện vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa khẳng định vị trí không thể thay thế của Đảng trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Không chỉ như vậy, Điều lệ Đảng còn nhấn mạnh tại chương VI (các điều 25, 26): Đảng lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt (Nhà nước thống nhất quản lý đối với Quân đội, Công an và sự nghiệp quốc phòng, an ninh theo quy định của Hiến pháp và pháp luật), đồng chí Tổng Bí thư là Bí thư Quân uỷ Trung ương.

Cơ chế cho phép quyền lực chính trị của Đảng được tập trung ở mức cao nhất. Đây là kết quả của quá trình thành lập và hoạt động của Đảng trong hơn 91 năm qua (1930 - 2021), Đảng đã mang lại lợi ích hết sức to lớn cho đất nước, cho Nhân dân Việt Nam. Đồng thời đây cũng là kết quả việc vận dụng những cách thức, mô hình hoạt động và phát triển của các đảng cầm quyền tiến bộ trên thế giới. Tuy nhiên, lý do sâu xa và thuyết phục nhất chính là Đảng được Nhân dân tin yêu, Nhân dân ủy quyền và trao quyền; vì vậy Nhân dân thừa nhận quyền tập trung lãnh đạo toàn diện cho Đảng, ủng hộ các đường lối của Đảng, tạo điều kiện cho Đảng đổi mới và hoàn thiện trong tiến trình lãnh đạo đất nước từ trước tới nay. Đồng thời Đảng cũng đặt mình trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Như vậy, quyền lực chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sự tất yếu, trong đó tất yếu loại trừ cả những “đặc quyền”, “ngoại lệ” - mầm mống có thể nảy sinh ra tiêu cực và tham nhũng.

Về bản chất, đây là thể chế chính trị mang tính chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân và vì dân”, hoàn toàn khác với sự độc đoán, chuyên quyền dẫn đến độc tài như ở một số nước khác.

Tuy nhiên, trên thực tế thì quyền lực của Đảng càng lớn, thì lại càng khiến cho những kẻ trục lợi, ham muốn tiền tài danh vọng cảm thấy thèm muốn. Bởi họ luôn nhìn thấy những món lợi mà quyền lực mang lại. Khi nảy sinh tham nhũng, mục đích trục lợi đã hết sức rõ ràng, người tham nhũng đã hoàn toàn đi chệch khỏi con đường vì nước, vì dân, mà chỉ thấy lợi ích mà mình muốn chiếm đoạt. Tham nhũng bao gồm từ “tham nhũng vặt” trong lĩnh vực hành chính, cho đến những thương vụ kinh tế ngàn tỉ, những vụ án ảnh hưởng đến sinh mạng con người hoặc đe dọa đến nền an ninh quốc gia v.v… Tham nhũng nảy sinh từ những kẽ hở của luật pháp, từ sự tha hóa của cán bộ, từ việc xử lý chưa nghiêm minh các loại vi phạm, tội phạm, hoặc từ những âm mưu chống phá của các thế lực thù địch... Đồng chí Nguyễn Phú Trọng phân tích: Công tác đấu tranh PCTN phải thường xuyên đối mặt với những thử thách, tiêu cực trong xã hội, những môi trường nhạy cảm, khiến con người dễ bị sa ngã nếu không có bản lĩnh, lập trường chính trị vững vàng và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp trong sáng [5 - tr 44]. Đồng chí cho rằng quan trọng hơn cả việc xử lý vi phạm là phải “ngăn ngừa tận gốc những sai phạm, khuyết điểm một cách căn cơ, bài bản bằng các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nói một cách hình ảnh là phải “nhốt quyền lực vào trong lồng cơ chế” (hoặc “mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế”) [5 - tr 123]. “Một khi đã xảy ra tham nhũng thì nhất thiết phải xử lý kiên quyết, xử lý thật nghiêm, đúng quy định của luật pháp, không có vùng cấm. Chúng ta phải nghiêm túc tuân thủ sự bình đẳng trước pháp luật, không có đặc quyền, không có ngoại lệ” [5 - tr 44].

3.Việt Nam hành động (giai đoạn 2013 – 2020)

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, khi vạch ra con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã xác lập bản chất “Nhà nước vô sản”, và chính thể này đã đứng vững từ ngày thành lập nước (1945) đến nay. Hiến pháp ghi rõ: “Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do Nhân dân làm chủ, mọi quyền lực đều thuộc về Nhân dân”. Như vậy, ở nước ta quyền lực chính trị nói chung, và quyền thực thi pháp luật nói riêng đều thuộc về Nhân dân; những chế tài dành cho tội tham nhũng cũng xuất phát từ quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân ta. Hay nói rộng ra, công tác phòng chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay thể hiện quan điểm và hành động của toàn Đảng, toàn dân ta. Thực hiện PCTN một cách quyết liệt và có hiệu quả như hiện nay là nhờ vào việc sử dụng và tăng cường quyền lực chính trị một cách đúng đắn, phù hợp.

Đặc biệt, trong giai đoạn từ 2013 – 2020, công tác phòng, chống tham nhũng đã được thực hiện  một cách quyết liệt, triệt để và hiệu quả. Từ việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng (ngày 01/02/2013), đến kết quả đạt được thời gian qua đã khẳng định những mục tiêu, quan điểm, chủ trương, giải pháp của Đảng và Nhà nước về PCTN là đúng đắn.

Sự đúng đắn và phù hợp này thể hiện rõ nét trong tác phẩm của đồng chí Nguyễn Phú Trọng - Tổng Bí thư Đảng, nguyên Chủ tịch nước: “Quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng” (NXB Chính trị Quốc gia Sự thật - Hà Nội, 2019). Đồng chí Nguyễn Phú Trọng với vai trò là đại diện sự lãnh đạo của Đảng và đại diện cho nguyện vọng, ý chí của Nhân dân đã thực sự lôi tệ nạn tham nhũng ra ánh sáng, vừa mổ xẻ cặn kẽ để gióng lên hồi chuông cảnh báo, vừa đưa công tác phòng chống tham nhũng lên mức độ toàn diện hơn trong cả lý luận và thực tiễn.

Tại hội nghị toàn quốc tổng kết công tác PCTN giai đoạn 2013-2020 của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN được tổ chức ngày 12/12/2020, Hội nghị đã đánh giá: Từ khi thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN đến nay, nhất là trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, công tác PCTN đã có một bước tiến mạnh, đột phá, đạt nhiều kết quả rất quan trọng, toàn diện, rõ rệt, là dấu ấn nổi bật trong nhiệm kỳ, được cán bộ, đảng viên và Nhân dân đồng tình, hưởng ứng, đánh giá cao, cộng đồng quốc tế ghi nhận, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Theo Tạp chí Nội chính, kết quả phòng chống tham nhũng giai đoạn 2013 – 2020 tóm lược như sau:

Công tác tố tụng: Từ năm 2013 - 2020, các cơ quan tiến hành tố tụng Trung ương và địa phương đã khởi tố, điều tra 14.300 vụ/24.410 bị can, xét xử sơ thẩm hơn 11.700 vụ/22.600 bị cáo về tham nhũng, kinh tế, chức vụ. Riêng Ban Chỉ đạo, từ khi thành lập đến nay đã đưa hơn 800 vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm vào diện theo dõi, chỉ đạo ở 3 cấp độ (Cấp độ Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo; cấp độ Ban Nội chính Trung ương theo dõi, đôn đốc; cấp độ tỉnh ủy, thành ủy chỉ đạo xử lý); trong đó, Ban Chỉ đạo trực tiếp theo dõi, chỉ đạo 133 vụ án, 94 vụ việc, đã xét xử sơ thẩm 86 vụ án/814 bị cáo. Công tác thu hồi tài sản tham nhũng có nhiều chuyển biến tích cực. 

Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán được tăng cường, nhất là  tập trung thanh tra, kiểm toán, xử lý và kiến nghị xử lý nghiêm sai phạm tại nhiều dự án, vụ việc gây thất thoát, thua lỗ lớn; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh nhiều sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy nhà nước, góp phần đắc lực nâng cao hiệu quả công tác PCTN.  Hơn 110 cán bộ diện Trung ương quản lý bị ra quyết định kỷ luật (trong đó có 27 đồng chí là Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương, 04 đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị). Các cơ quan thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị xử lý trách nhiệm hơn 14.000 tập thể và nhiều cá nhân sai phạm; chuyển cơ quan điều tra hơn 650 vụ việc có dấu hiệu tội phạm. 

Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế về quản lý kinh tế - xã hội: từ năm 2013 - 2020, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành hơn 200 văn bản về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và PCTN. Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới 259 luật, pháp lệnh, nghị quyết, nhất là Luật phòng, chống tham nhũng, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật Hình sự, Luật Giám định tư pháp, Luật Tố cáo, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Luật Tiếp cận thông tin... Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 1.172 nghị định, 966 nghị quyết, 488 quyết định; các bộ, ngành, địa phương đã ban hành gần 88 ngàn văn bản để triển khai thực hiện chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về PCTN.

Bên cạnh đó là công tác cán bộ, cải cách hành chính, chống tình trạng chạy chức, chạy quyền, cục bộ, địa phương, “lợi ích nhóm”;  Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng có nhiều đổi mới, nhất là các cơ quan truyền thông, báo chí; Các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp và nhân dân ngày càng phát huy vai trò, trách nhiệm của mình trong PCTN ở cấp trung ương và địa phương; Chú trọng kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chức năng PCTN ở cả trung ương và địa phương; Tăng cường hợp tác quốc tế (Việt Nam đã ký kết và tham gia 20 hiệp định tương trợ tư pháp) v.v…[7]

Tóm lại: với sự chỉ đạo quyết liệt của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và của cá nhân Tổng bí thư Đảng, nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị để đấu tranh với tham nhũng - đặc biệt coi tham nhũng là “giặc nội xâm”, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” - công tác PCTN giai đoạn 2013 - 2020 đã được thực hiện bài bản và hiệu quả từ trung ương đến địa phương. Quyền lực chính trị được sử dụng trong công tác phòng chống tham nhũng ở nước ta được sử dụng đúng mục đích, và có hiệu quả rất lớn; tạo nên sự đột phá trong cách thức tập trung và sử dụng quyền lực để đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng; tạo tiền đề đặc biệt thuận lợi trong việc tiếp tục sử dụng quyền lực chính trị trong thời gian tới đối với phòng, chống tham nhũng nói riêng, chỉ đạo điều hành đất nước nói chung.

Công tác PCTN  giai đoạn 2013 - 2020 là sự tiếp nối có hiệu quả lớn, mang tính đột phá của giai đoạn trước đây, đồng thời là tiền đề cho thời gian tới.

Trước giai đoạn 2013 - 2020, Đảng và Nhà nước ta cũng vẫn luôn nỗ lực PCTN như: ban hành Luật phòng, chống tham nhũng (2005, đã sửa đổi 4 lần); Nghị quyết số 1039/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 28/8/2006 về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng do Chủ tịch Quốc hội ký ban hành; Quyết định số 1424/2006/QĐ - TTg, ngày 31/10/2006, của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Cục Chống tham nhũng thuộc Thanh tra Chính phủ; Nghị quyết số 294A/2007/NQ - UBTVQH12, ngày 27/9/2007 về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về phòng, chống tham nhũng; Nghị Quyết số 21/NQ - CP, ngày 12/5/2009 của Chính phủ về việc ban hành Chiến lược Quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020; cùng hàng loạt quyết định, chỉ thị, thông tư, kế hoạch… khác về PCTN.

Đây là một quá trình chuyển biến mạnh mẽ trong công tác phòng, chống tham nhũng toàn quốc. Năm 2013, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã xác lập một cơ chế phối hợp trong giải quyết các vụ án, vụ việc tham nhũng, tạo sự đồng thuận cao trong Đảng, chính phủ và được dư luận đồng tình, đánh giá cao. Từ đó, Ban Chỉ đạo tập trung giải quyết từng phần cho tới toàn phần những khó khăn trong việc phát hiện, đôn đốc xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp; chấn chỉnh hàng loạt công tác tố tụng, công tác cán bộ, công tác xây dựng Đảng… PCTN, lãng phí, tiêu cực “đã trở thành phong trào, xu thế”.  Tuy nhiên, đây không chỉ là một "cao trào", càng không thể "chững lại", mà phải làm mãi. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng cũng nêu quan điểm: "Chống" là quan trọng, cấp bách, phải kiên quyết làm để răn đe, cảnh tỉnh, nhưng "xây" mới là cơ bản, lâu dài [5 - tr148]. Đây là bài học kế thừa từ tư tưởng Hồ Chí Minh trong PCTN, và đã thể hiện tính đúng đắn trong quá trình thực hiện hiện nay.

4.Tăng cường quyền lực chính trị trong phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam

Mô hình nhà nước, thể chế chính trị, mức độ giàu - nghèo hay các chỉ số phát triển ở các nước trên thế giới... không giống nhau, nhưng vấn đề phòng, chống tham nhũng  là vấn đề hết sức quan trọng, cấp thiết đối với tất cả các quốc gia (kể cả ở những nước ổn định và phát triển nhất thế giới). Mỗi quốc gia có cách PCTN  khác nhau, nhưng đều có những đặc điểm chung cơ bản sau:

Thứ nhất, do Đảng cầm quyền, thông qua chính phủ lãnh đạo và định hướng việc phòng, chống tham nhũng;

Thứ hai, dùng luật pháp làm cơ sở pháp lý chung nhất để phát hiện, truy tố và xét xử tham nhũng, trong đó có việc định danh tổ chức và cá nhân tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng v.v…

Thứ ba, nỗ lực tạo dựng một cơ chế làm việc trong lĩnh vực công không có tham nhũng, hướng đến kiểm soát và chế tài tham nhũng ngoài lĩnh vực công. Ngoài ra, tạo dựng một hành lang pháp lý mang tính quốc tế (thông qua các Điều ước quốc tế) để ngăn chặn tham nhũng, lũng đoạn, thao túng xuyên quốc gia…

Thứ tư, công tác PCTN ở trung ương và địa phương luôn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau; trong đó địa phương là cơ sở của quyền lực chính trị để loại trừ các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, trung ương vừa có vai trò định hướng, chỉ đạo, vừa có vai trò quyết định của toàn bộ máy chính trị. Có sự thống nhất về hành động, và sự phân công, phân quyền cụ thể thông suốt từ trung ương đến địa phương mới đi đến thành công trong công tác PCTN nói riêng cũng như công tác điều hành, quản lý đất nước nói chung.

Bên cạnh đó là việc đồng bộ hóa các giải pháp phòng, chống tham nhũng theo tinh thần Đại hội Đảng lần thứ XIII:

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định rõ công tác PCTN, lãng phí, tiêu cực “là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng, củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc” [8 - tr 193]. Đồng thời khẳng định: “tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ” [9 - tr 213]. Để “tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Củng cố lòng tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa” [9- tr 334]

Thứ nhất: công tác xây dựng Đảng, chú trọng công tác giáo dục và đào tạo cán bộ nhằm trong sạch nội bộ đảng; phát huy vai trò nêu gương của người cán bộ, đảng viên; xác định vai trò người đứng đầu. Phát huy tích cực hơn nữa vai trò của Ban nội chính, Ban kiểm tra, Ban tổ chức cán bộ và các Ban khác của Đảng;

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước; hoàn thiện hệ thống pháp luật, tòa án để xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”; Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tạo cơ chế bảo vệ các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực PCTN; bảo vệ người dám nói, dám làm, dám tố cáo, đấu tranh với hành vi tham nhũng; Triệt để PCTN đi đôi với việc tuyên dương, khen thưởng những tổ chức, cá nhân PCTN tích cực, hiệu quả;

Thứ ba, tiếp tục thực hiện một cách thực chất hơn nữa những vấn đề: kê khai tài sản, thu nhập; xử lý và thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, tham nhũng; xem xét trách nhiệm hình sự của pháp nhân hoặc cá nhân đưa - nhận hối lộ;

Thứ tư, đổi mới chế độ tiền lương và các chính sách đãi ngộ cho cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; xây dựng cơ chế “để không thể, không dám, không muốn và không cần tham nhũng”;

Thứ năm, từng bước mở rộng PCTN ở lĩnh vực ngoài nhà nước; nhận diện các loại tội phạm tham nhũng mới hơn, tinh vi hơn do sự phát triển về khoa học, công nghệ v.v...

Có thể kết luận: quyền lực chính trị cần phải tăng cường một cách mạnh mẽ, có hiệu lực, hiệu quả hơn cả trong và ngoài lĩnh vực công, trong nước và ngoài nước, đặc biệt trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng; để Việt Nam tiếp tục ổn định, phát triển với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam./.

Trần Thu Hằng

(Giải Khuyến khích cuộc thi viết chính luận khoa học Chủ đề: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới"- năm 2021)

 

*TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Dẫn theo Hồ Phương (2018), Website của Ban Nội chính trung ương, Chống tham nhũng: Kinh nghiệm của các nước trên thế giới.

2.Hà Trang (2021), Tạp chí điện tử Pháp lý, Kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng tại Nhật Bản.

3.TS Nguyễn Thị Thanh Dung (2019), Lý luận chính trị - Cơ quan nghiên cứu và lý luận khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng của Hàn Quốc.

4. Dẫn theo Dương Nguyễn/Tạp chí Thanh tra (2018), Mặt trận - Cơ quan của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Thái Lan với những nỗ lực trong cuộc chiến chống tham nhũng.

5. Nguyễn Phú Trọng (2019), Quyết tâm ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

6. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình Cao cấp Chính trị - Chính trị học, Nxb Lý luận  Chính trị.

7.Tạp chí Nội chính (2021), Kết quả công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013-2020.

8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị  Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

 9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập II, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.