KỶ NIỆM 43 NĂM THÀNH LẬP HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT ĐỒNG NAI (22/12/1979 - 22/12/2022) - CHÀO MỪNG NHỮNG NGÀY LỄ LỚN NĂM 2022 - Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh!
XÓM VEN RỪNG
 

(TC Văn nghệ Đồng Nai số 55)


1. Tiếng chuông giảng đường kết thúc buổi học cuối cùng của ngày thứ bảy vang lên, đó cũng là tiếng chuông khởi đầu cho chuyến du lịch năm cuối đại học của lớp sư phạm ngữ văn. Năm nào cũng thế, cứ tháng 5 là cả lớp lại rủ nhau đi du lịch vì như lời lớp trưởng Thu nói: “Đời sinh viên có bao nhiêu, không chơi mốt ra trường đi làm rồi hối không kịp”.

Cả lớp lỉnh kỉnh balo, vali, túi xách háo hức kéo nhau lên xe, giỡn cợt, giành chỗ… náo động một góc sân trường. Riêng tôi quay lưng lại, đeo chiếc balo của mình, lặng lẽ ra trạm xe buýt. Bốn năm đại học sắp qua, vài tháng nữa là ra trường làm cô giáo, nhưng tôi chưa từng có một chuyến du lịch chung với lớp. Tin nhắn điện thoại rung lên, chị Mai nhắn: “Hôm nay em có qua làm được không?” Thế là hành trình đổi chiều, tôi không bắt xe về nhà nữa mà đi bộ tới nhà chị Mai cách trường ba con hẻm.

Chị Mai là một người phụ nữ mạnh mẽ, độc lập và chủ động trong cuộc sống – cho tới khi chị có con. Con gái chị khó ăn, khó ngủ từ lúc mới sinh. Tới giờ đã ba tuổi nhưng cô bé không chịu ăn bất cứ thứ gì ngoài bánh mì. Cả ngày chị cầm chén cháo chạy theo nó, hứa cho con bé đi công viên, hứa cả chuyện ba nó về sẽ bắt khủng long cho nó cưỡi chơi, chỉ để nó chịu há miệng và nuốt xuống một vài miếng cháo. Lúc nào tôi tới nhà chị cũng vậy, đồ chơi lẫn đồ ăn rải khắp sàn.

Chị Mai ơi, cái áo này giặt hay sao?

Thôi áo dơ rồi, làm giẻ lau nhà thôi em… Ngoan ngoan nào… há miệng ra con… Còn chưa nuốt nữa… nuốt ngay! – Giọng mỗi lúc một lớn, chị bắt đầu hết kiên nhẫn với con bé.

Vậy cho em nhé chị!

Ừ, em cần thì lấy đi.

Dọn nhà cho chị Mai xong cũng đến quá trưa. Lần nào chị cũng hào sảng mời tôi ở lại ăn cơm, toàn những món tôi chưa từng được ăn ở đâu cả ngoài một lần đi sinh nhật cái Thu lớp trưởng ở nhà hàng sang trọng. Biết tôi sẽ về quê một tuần, chị soạn ra cả một bịch to đồ cũ và cả đồ mới chưa mặc một lần của con chị cho tôi.

Ra tới trạm xe buýt thì mẹ tôi gọi điện: “Nhà mình mới bị trộm con ơi!...” – Điện thoại của tôi sập pin tắt nguồn đột ngột.

Trộm vào nhà? Nhà tôi có gì để trộm nhỉ? Căn nhà cấp bốn sơ sài mới cất hồi đầu năm, nhà tôi còn chưa mua được cái tivi. Thứ đáng giá nhất trong nhà chắc chỉ có cái xe cup mẹ hay chạy chợ xin lại của người bà con. Cái xe chạy è è lúc nào cũng như sắp chết máy. Nhà tôi ở ven rừng phòng hộ, đường ra ngoài lộ vẫn là đường đất bùn lầy, nếu tên trộm nào có lấy cái xe chắc chỉ có cách vác lên vai mà bê ra thôi. Vậy nhà tôi có cái gì để mà trộm?


1637666499519.jpg
Tranh minh họa Nguyễn Khôi




2. Xe buýt liên tỉnh Sài Gòn – Biên Hòa đông đúc như mọi cuối tuần khác. Nhớ tới 2 lần bị móc túi, tôi càng ôm chặt cái balo trước ngực, không dám ngủ mà nhìn chăm chăm vào bịch đồ chị Mai cho để dưới chân. Suốt 4 năm qua, tôi đã lên xuống tuyến xe này không biết bao nhiêu lần nhưng mỗi năm lại xuống một trạm khác nhau. Mỗi lần đổi trạm, anh bán vé hỏi han: “Nhà em lại chuyển nhà nữa à?” – Nói cho đúng thì là chuyển quán.

Sáu năm trước bố mẹ tôi chuyển vào Biên Hòa sinh sống, mang theo ước mơ về một cuộc sống mới khác với cái làng nhỏ ở xóm Chùa. Tôi lúc ấy đang học lớp 10 nên ở lại học xong phổ thông trung học, rồi mới vào trong đó học đại học. Bố mẹ tôi theo một người họ hàng mở quán ăn. Việc làm ăn theo lời bố nói vẫn đang phát triển. Thế nên năm đầu nhà tôi bán đi mảnh vườn. Năm thứ 2 bán đi cái ao. Năm thứ 3 bán thêm cái nhà, tôi chuyển sang nhà bác họ ở nhờ… cho tới năm thứ 6 của nghề quán xá, ba mẹ bán nốt mảnh đất “để dành”. Cái quán cũng sang lại cho người ta.

Trả hết nợ nần làm quán, bố mẹ còn đủ tiền mua một mảnh đất ven rừng mà nhìn xung quanh mới lác đác 3, 4 căn nhà tạm bợ. Cuộc sống trở về điểm xuất phát. Bố mẹ tôi trở về với cái nghề đã nuôi sống cả làng tôi – không giàu có nhưng đủ nuôi con cái ăn học – nghề nấu rượu nuôi heo.

Thế thì nhà tôi có cái gì để trộm?

* * *

3. Tôi đi bộ từ trạm xe buýt về nhà, ven theo con đường rừng mà khói bụi từng cơn bốc lên mù mịt. Vừa đi vừa trông gặp được ai trong xóm để đi nhờ xe về. Nhưng chỉ gặp thằng Tuấn chạy xe đạp đi mua cho mẹ nó chai nước mắm.

- Tuấn, chở bịch đồ này về nhà chị trước hộ chị với. Tối kêu cái Mi, cái Thư qua nhà chị nhớ!

Thằng Tuấn mười tuổi, năm ngoái còn học lớp 3 nhưng năm nay nghỉ rồi. Nó bảo học không vào, chẳng hiểu gì. Mẹ nó cũng đồng ý cho nó ở nhà trông con bé Mi - đứa em cùng mẹ khác cha. Hằng ngày, mẹ và dượng nó đi làm công ty từ sáng tới khuya. Mỗi lần về là nghe rầm rầm tiếng đập phá, đổ vỡ và tiếng chửi bới.

Mới qua nửa năm mà đã có đến chục ngôi nhà mọc lên. Nhà nào cũng như nhà nào bởi do chủ đất xây rồi bán lại. Nhà Thằng Tuấn sát bên nhà tôi, rồi tới nhà thằng Huy, đối diện thì là nhà cái Thư, rồi đến nhà bác Hồng trồng rau, tiếp nữa là nhà anh Dư…

Xóm nhỏ đông nhất là trẻ con. Mỗi buổi tối lại thấy chúng nó tụ họp ngoài đường ồn ào. Hồi cái Thư cãi nhau với tụi thằng Tuấn, thằng Huy, thế là mấy thằng con trai trưa nào cũng lén đi dập cầu dao điện nhà cái Thư. Cái Thư lại chạy sang nhà tôi hỏi bác ơi mất điện hả? Thấy vui quá, thế là thằng Tuấn, thằng Huy đi dập cầu dao nguyên cả xóm – cả xóm xây một kiểu nhà nên trước cổng nhà nào cũng là đồng hồ điện. Đang trưa mà mấy người chạy ra đường chửi vì vẫn chưa biết ai làm. Cho tới khi bác Hồng đi làm rau về bắt gặp thằng Tuấn vừa rút tay ra khỏi cái cầu dao. Trò quậy phá đó mới kết thúc.

Về tới nhà, câu đầu tiên tôi hỏi mẹ là nhà mình mất cái gì thế? Mẹ bảo: Hồi sáng mẹ để cửa chạy lên đầu ngõ tạp hóa mua gói mì, về đã thấy mất rồi. Khoảng 200 ngàn tiền lẻ con ạ! Mẹ tôi nấu rượu bán tại nhà, nên để thùng tiền lẻ dưới bếp luôn. Mẹ nói mẹ để khuất sâu trong mấy can rượu, chỉ có người nhà biết thôi mà không hiểu sao lại mất được. Bố tôi thì bảo, thôi của đi thay người.

* * *

4. Buổi tối, đám trẻ kéo tới nhà tôi. Mẹ tôi mở bịch đồ chị Mai cho ra, chia quần áo cho mấy đứa con gái còn bọn con trai thì được chia kẹo. Bố mẹ tôi quý đám trẻ lắm, hay gọi tụi nó qua nhà chơi những khi chị em tôi không ở nhà. Chia xong mẹ nhận ra thiếu thằng Tuấn, bảo thằng Huy qua gọi nó đi.

- Thằng Tuấn không qua đâu bác. Nó bận chơi với con chuột hamster rồi.

- Ủa nó có con chuột hồi nào? – Cái Thư hỏi

- Mày không biết gì hết! Nó mới được ai cho đó, 2 con lận, 1 con xám 1 con đen đẹp lắm. Nhưng nó không cho ai sờ vào đâu, nó để mình nó chơi thôi.

- Không phải – Cái Mi cãi – Anh Tuấn mua đó! Làm gì có ai cho.

Đám trẻ léo nhéo cãi nhau rồi lại kéo nhau ra đường chơi.

Biết tôi về, mẹ anh Dư sang chơi. Anh Dư nổi tiếng trong xóm là người đàn ông hiền lành, không nhậu nhẹt, không là cà quán xá, đi làm cả thứ bảy và chủ nhật. Thế nên, trẻ nhất xóm mà anh đã có vài ba miếng đất. Nhưng đã 35 tuổi rồi mà vẫn chưa lấy vợ. mẹ anh sang nhà tôi suốt, toàn nhằm những lúc tôi về nên tôi cũng hiểu ý bà. Bà hỏi bố mẹ tôi, năm nay tôi học xong rồi nhỉ, đã tính xin việc ở đâu chưa? Công việc giờ xin khó lắm, nhất là giáo viên, có khi mất tới cả mảnh đất ấy… Rồi bà lại kể anh Dư mới mua thêm mảnh đất nữa.

Bà về rồi, bố tôi mới nói tính thằng đó “vắt chày ra nước”, quen ai cũng không không dám mời người ta đi uống cà phê, sợ tốn tiền và mất thời gian. Mẹ tôi thì vẫn khen, quan trọng là biết chăm chỉ làm ăn, không lo chết đói là được. Mẹ tôi nói giống như lời mẹ anh Dư, nói bên nhà tôi và nhiều nhà khác nữa. Mấy năm nay bà vẫn chăm chỉ đi các nhà có con gái lớn như vậy.

Bố mẹ cũng lo vài tháng nữa tôi ra trường rồi, phải kiếm việc làm. Tôi vẫn nghĩ giản đơn là đi phỏng vấn xin việc ở các trường học. Nhưng bố bảo khó lắm, nghe nói phải xin, phải “chạy”. Bố mẹ cũng có dự tính, mảnh ruộng ngoài quê được đền bù, bố hùn tiền với bác Kiên – chồng bác Hồng làm rau gần nhà tôi – đầu tư thuê ao cá nuôi, vài tháng nữa là thu ao rồi. Lúc đó sẽ có một khoản để lo công việc cho tôi.

Vợ chồng bác Kiên Hồng đã ngoài 50 nhưng chưa có con. Hằng ngày bác Hồng trồng rau còn bác Kiên chở ra chợ đầu mối bán cho thương lái. Cuộc sống cứ khó khăn mãi vì bệnh tật của bác Kiên. Lâu lâu buồn chán, bác lại qua nhà tôi mua vài lít rượu. Hôm sau sẽ lại thấy bác Hồng than thở với mẹ tôi: Cô đừng bán rượu cho ông ấy nữa!

Nhớ có lần bố tôi kể, bác Hồng về quê cả tuần, bác Kiên ở trong nhà mà bỗng dưng lên cơn đau bụng, máu hộc ra cả miệng. Bác chỉ kịp bò ra trước cửa nhà mà ngất đi. Cả xóm tôi hò nhau, người phá cửa, người gọi xe đưa bác vào viện. May là ở xóm ven rừng này, chứ nếu ở nhà phố, nhà nào biết nhà nấy thì không biết mọi chuyện sẽ đi đến đâu nữa.

5. Đêm tối ở xóm ven rừng rất khác lạ. Tiếng gió rít qua hàng cây nghe như gió bấc ngoài Bắc mỗi khi mùa đông về. Đang là mùa mưa, mỗi trận mưa lớn nước đổ về như lũ. Xóm ven rừng trước đây vốn là những quả đồi lớn, nên dấu tích còn lại trên những con đường đất vẫn rất rõ, gập ghềnh lên xuống. Có lần tôi về nhà đúng trận mưa, cảm giác như sắp bị trôi theo dòng nước. Nước trôi đi sau mỗi trận mưa lại trơ ra sỏi đá.

Bác Hồng gọi cửa cho nhà tôi nải chuối vườn. Bác là người phóng khoảng, xởi lởi, vẫn thường cho nhà tôi rau với trái cây bác trồng được. Bác là người vào xóm này đầu tiên. Tận dụng đất trống, cải tạo đất làm vườn rau. Cứ một ngôi nhà mọc lên là một mảnh vườn của bác mất đi. Dần dần chỉ còn lại hai, ba mảnh nhỏ.

Buổi sáng tôi thường ngồi đọc sách trước cửa nhà, mấy cuốn sách mượn ở thư viện có những câu truyện cổ tích, ngụ ngôn tuyển tập khắp thế giới. Mấy câu chuyện ấy hữu ích lắm, đi thực tập mà hôm nào dạy nhanh quá, còn dư giờ thì tôi sẽ lấy ra kể cho học sinh nghe, coi như chữa cháy. Bố tôi cũng là người thích văn chương, nên cũng lấy sách ra đọc lúc ông rảnh rỗi.

Mẹ anh Dư đi chợ ngang qua, miệng lẩm bẩm nhưng cố để tôi nghe thấy: “Con gái học nhiều làm gì? Tới như thằng Tuấn con trai còn học cho biết chữ là được rồi. Học nhiều, học cao rồi xin việc, lấy chồng cho khó ra… không có tiền rồi cũng đi làm công nhân thôi!”

Buổi tối đám trẻ lại tụ họp ngoài đường. Tới hôm nay thằng Tuấn mới chịu đem 2 con chuột ra ngoài chơi. Con chuột như một món đồ chơi quý báu, nó chỉ cho đám trẻ nhìn chứ cấm được đụng vào.

Nó ăn gì thế Tuấn – tôi hỏi

Ăn rau, ăn mấy loại củ như cà rốt, rau muống…

Nó ăn thịt không? – Cái Thư thắc mắc

Không! Mày không biết gì cả.

Bố tôi đi ra, thường bố tôi hay bày cho tụi nhỏ chơi trốn tìm, chơi ô ăn quan, chơi nhảy lò cò… nhưng tối nay nhân vật chính là hai con chuột của thằng Tuấn rồi.

Mấy đứa thích nghe bác kể chuyện không?

Dạ có! Chúng nó đồng loạt reo lên.

Bố tôi kể cho tụi nhỏ nghe một câu chuyện ngụ ngôn “cải biên”, nằm trong mấy cuốn sách tôi mang về. Câu chuyện “Ông quan xử án”: Có một ông quan nổi tiếng xử án tài tình. Bữa nọ hai người đàn ông tranh nhau một túi tiền xu đem lên quan xử. Một người nói tôi bán dầu ở chợ, anh này tới mua dầu, lúc tôi mở túi tiền ra thối lại thì anh ta giật lấy nhận là của mình. Anh kia cãi lại, tôi đi mua dầu, vừa bỏ túi tiền ra lấy tiền trả thì anh này giật lấy, tiền này là của tôi. Ông quan kêu hai người nộp lại túi tiền rồi cho về, sáng mai quay lại sẽ có kết quả.

Bọn trẻ háo hức nghe, hối thúc bố tôi kể nhanh lên. Đúng lúc đó bố tôi bảo bác bận rồi, đợi bác mười phút nhé. Bố tôi đi vào nhà làm đám trẻ cãi nhau ì sèo, đứa thì bảo tiền của anh bán dầu, đứa thì bảo tiền của anh mua dầu. Bố tôi lúc nào cũng lựa khi câu chuyện cao trảo thì bỏ dở.

Bố tôi đi ra kể tiếp câu chuyện: Sáng hôm sau, ông quan đưa tiền cho anh bán dầu và phạt anh mua dầu ba mươi roi vì tội tham lam. Các cháu có biết tại sao không? Vì ông quan đã lấy ra một bát nước lã, thả tiền vào, thấy nổi váng dầu lên và biết ngay là tiền của anh bán dầu. Vì tay anh bán dầu lúc nào cũng dính dầu, những đồng tiền ấy chắc chắn đã qua tay anh cầm nên là của anh.

Bọn trẻ hào hứng vì ông quan thông minh. Bố tôi nói thêm: Hôm trước nhà bác mất tiền, nên bác cũng sẽ dùng cách này để tìm xem tiền nhà bác đang ở đâu.

Làm như nào bác? Thằng Tuấn hỏi

Thì bác đi tới mấy tiệm tạp hóa gần đây, xem tiệm nào nhiều tờ tiền có mùi rượu là biết ngay tiền nhà bác, bác sẽ hỏi xem ai trả tờ tiền đó, là biết ai lấy trộm ấy mà!

Sáng sớm hôm sau tôi ra quét sân đã thấy thằng Tuấn thập thò trước cổng.

Chị Thương ơi… ra em nói cái này…

Thì ra cu cậu chính là người lẻn vào nhà tôi hôm đó lấy trộm tiền, rồi đem đi mua chuột. Nó khóc và xin lỗi rối rít.

Em đền chị hai con chuột này luôn ạ!

Tôi vừa thương vừa buồn cười. Thì ra bố tôi mượn câu chuyện ấy để “lật tẩy” vụ trộm này.

* * *

6. Tôi về lại thành phố để hoàn thành những môn thi cuối cùng trước ngày tốt nghiệp. Cái Thu hỏi tôi dự đinh xin việc ở đâu chưa? Rồi nó cho tôi biết một ngôi trường gần nhà tôi đang thiếu giáo viên văn, chị bạn nó dạy ở đó bảo biết ai thì giới thiệu tới phỏng vấn. Tôi cố gắng lấy hết sự tự tin, quyết tâm để tới ngôi trường ấy. Nếu may mắn đậu, hẳn sẽ bớt cho bố mẹ tôi một gánh nặng. Buổi phỏng vấn cũng khá suôn sẻ. Cô hiệu trưởng nói tôi về nhà đợi kết quả. Lúc tôi bước ra thấy ba bốn anh chị khác cũng đang ngồi đợi, tôi biết cơ hội này cũng mong manh lắm.

Về nhà, đã thấy mẹ anh Dư ngồi ở phòng khách, nhưng lần này bà không hỏi về tôi nữa, mà hào hứng kể chuyện cuối năm làm đám cưới cho con trai. Chị đó cũng ngoài 30, làm công nhân ở khu công nghiệp. Một gia đình mới sắp xuất hiện ở xóm ven rừng này.

Bố tôi về nhà với bộ dạng thất thần. Bố bảo sáng giờ không gọi được cho bác Kiên, nhà bác khóa cửa, gọi bác Hồng cũng không thấy. Bố lo lắng chạy ra cái ao thuê chung với bác Kiên thì chủ ao nói bác Kiên đã vét cá hôm qua, trả ao lấy tiền cọc rồi. Giờ họ không liên quan gì nữa.

Suốt cả tuần không khí trong nhà nặng nề. Bố tìm bác Kiên khắp mọi nơi không thấy. Hôm nào cũng có người tới nhà bác Kiên đòi nợ nhưng căn nhà cũng bán rồi. Một gia đình mới chuyển đến. Chị vợ cứ thắc mắc: Sao người ta đi mà không mang đồ dạc đi thể? Không ai biết tung tích hai bác đâu cả. Người lớn trong xóm ai cũng buồn, chỉ có đám trẻ con là tối tối vẫn ríu rít chạy chơi, chúng không hiểu tại sao người lớn buồn nhiều và buồn lâu tới vậy.

Một cuộc điện thoại đã cắt ngang tất cả. Cô hiệu trưởng báo tôi đã được nhận vào làm giáo viên tập sự. Bố mẹ tôi vui mừng khôn xiết. Bố lại bảo: “Coi như của đi thay người”.


7. Vài năm sau bố tôi đi thăm bệnh người họ hàng có gặp lại bác Kiên đang nằm viện. Bác giờ cũng trong lúc thập tử nhất sinh, có hối hận về những chuyện cũ cũng chẳng làm gì được nữa rồi. Bố tôi chẳng nói gì nhiều, mong bác có thể vượt qua bạo bệnh mà sống tiếp.

Một thời gian sau bác Hồng có tới nhà tôi, báo tin bác Kiên đã mất và đền bù lại cho bố tôi số tiền năm đó làm ăn chung. Bác bảo xóm mình giờ đổi thay nhanh quá, nhà mọc lên kín đất rồi, muốn mua lại nhà chắc cũng khó lắm.

Xóm ven rừng nhà tôi, mỗi người về đây sống là một câu chuyện nhưng hầu như ai cũng đang trong lúc chênh vênh nhất của cuộc đời. Bởi người ta vẫn nói có nghèo khổ mới vào đây sống. Xóm ven rừng nằm lẻ loi cô đơn nhưng nơi đây chất chứa bao hy vọng về một cuộc sống mới ổn định hơn, ngày một tốt đẹp hơn./.

MS: TN17-2