Thứ 6 - 26/02/2016
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây
NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG 81 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM THÀNH CÔNG (19/8/1945 - 19/8/2026) VÀ QUỐC KHÁNH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM (2/9/1945 - 2/9/2026)!
ĐÀN ĐÁY - GIẢI MÃ MỘT SỐ BIỂU TƯỢNG VÀ CẢM HỨNG LIÊN THỂ LOẠI

​Trong thời đại mà nhịp sống nhanh, gấp, truyền thông nghe nhìn lấn lướt, còn công chúng thường hướng đến những gì ngắn gọn, lẹ làng như hiện nay, thì một tiểu thuyết khai thác sâu vào tâm hồn nghệ sĩ của những nhân vật lịch sử và ca trù - loại hình nghệ thuật vốn dĩ rất “kén" người nghe, thực sự là một thách thức. Thế nhưng, “Đàn Đáy" đã vượt qua thách thức ấy bởi lực hút mãnh liệt đối với những tâm hồn khao khát cái đẹp, sự đồng điệu và nghệ thuật chân chính. Đọc “Đàn Đáy" của Trần Thu Hằng không chỉ là việc lật giở từng trang sách, mà là trải nghiệm đọc trọn vẹn, sự tận hưởng chậm rãi để “thấm" từng con chữ mang phong cách cổ điển.

Nét phác họa nhân vật trên bối cảnh thời cuộc

Tác phẩm được Nhà xuất bản Hội Nhà văn in 2.450 cuốn với 34 chương, 445 trang. Lấy bối cảnh Thăng Long thời Lê - Trịnh, một giai đoạn lịch sử đầy biến động của Việt Nam, tiểu thuyết Đàn Đáy sử dụng các sự kiện thời đại như một phông nền để phác họa nên bức tranh đa sắc bằng nghệ thuật ngôn từ về giáo phường Cổ Tâm nổi danh khắp kinh kỳ. Các nhân vật lịch sử được tác giả tập trung khắc họa sự phức cảm trong diễn biến tâm lý, tư tưởng, đưa họ trở về tư cách con người đời thường ngổn ngang những giằng xé nội tâm. Tuy nhiên, nhân vật trung tâm của tác phẩm không phải là những nhân vật lưu danh trong lịch sử như Lê Chiêu Thống, Trịnh Cán, Nguyễn Bình, Nguyễn Khản, Hoàng Đình Bảo, Nguyễn Hữu Chỉnh… mà là hai nhân vật mang tên Bạch Vĩ và Bạch Dung - anh kép đàn dòng dõi cùng cô đào hát không rõ gốc tích.

Ngay từ những trang viết đầu tiên, tác giả đã dẫn dắt người đọc đến với nhân vật trung tâm bằng một giọng văn dí dỏm nhưng không kém phần thâm trầm, nội lực. Giữa náo nhiệt tin đồn kì lạ, chuyện chưa từng nghe, chưa từng thấy bao giờ khiến Hồ Tây dậy sóng, khiến một số người tự xưng kẻ sĩ, người gù lưng, ghẻ lở, răng hô, teo ngực… đến các bà thiếp, tiểu thư khuê các, ả hầu, ăn mày… tranh nhau nhảy xuống giếng để được xinh đẹp, lành lặn… làm tất tật giếng ở kinh thành, nghe đâu, đều có người. Sự kiện giống hoa quý, chim lạ xuất hiện cũng đang làm náo động khắp chốn, thì ở “Trung môn quán" hay còn gọi “Nhàn tửu quán" có những kẻ say khướt, cả ngày im lặng, không thốt một lời. Trong quán đó, có khách quen là chàng Bạch Vĩ.

Xuyên suốt tác phẩm, không chỉ là bi kịch “tài mệnh tương đố", mà tác giả còn mở rộng biên độ mâu thuẫn của thân phận người nghệ sĩ trước những định kiến khắt khe của xã hội. Với sự am hiểu sâu sắc về lịch sử và âm nhạc truyền thống, cách trần thuật thong dong, Trần Thu Hằng đã làm chủ hoàn toàn các nhân vật và sự kiện, soi rọi dưới góc nhìn của một tâm hồn nghệ sĩ.

Như Trịnh Công Sơn từng viết: “Người vinh quang mơ ước địa đàng, người gian nan mơ ước bình thường", là con người có vị thế, trải nghiệm khác nhau sẽ có mong cầu khác nhau. Nhìn sâu hơn, rộng hơn, xa hơn vào những kiếp người, sau tất cả những nông nổi, ước mơ, hoài bão, sau vấp ngã, mất mát, đau thương là mong cầu an yên và khát khao được hạnh phúc. Ngay cả những bậc vương tôn, công hầu, danh tướng cũng không thoát ra khỏi vòng quy luật của vũ trụ này.

Tính biểu tượng về thân phận và định mệnh

Tác phẩm còn kiến tạo những hình ảnh biểu tượng đầy ám ảnh. Đó là hình ảnh “những người đàn bà cụt đầu" - thân thể mờ nhạt, không có ý thức và tư duy độc lập, sống như những hình nhân, con rối bị điều khiển bởi định kiến và vòng xoáy thời cuộc. Giữa bối cảnh thực - mộng đan xen ấy trong tâm tưởng chàng Bạch Vĩ, những kiếp người như Bạch Vượng, Bạch Trang, Bạch Dung hiện lên với những nỗi ám ảnh và khát khao khôn nguôi.

Một trong những biểu tượng đa chiều của tác phẩm chính là “cái bóng". Già Lam được ví như “cái bóng của những người đàn bà ở đây, cái bóng của tuổi trẻ, nhan sắc, y trang, tiếng nói...". Và khi Bạch Dung bước vào giáo phường Cổ Tâm, nàng lại trở thành cái bóng của bà. Sự liên tưởng “bóng của bóng" này gợi mở nhiều tầng ý nghĩa về sự kế thừa và định mệnh nghiệt ngã của người nghệ sĩ, của kiếp hồng nhan.

Nỗi khao khát nhất của người làm nghệ thuật chân chính có lẽ là sự thuần khiết. Biểu tượng về sự khát khao thuần khiết ấy được hiển lộ khi Bạch Dung muốn hát để quên đi những xao động dữ dội trong lòng, để tiếng hát không bị vẩn đục bởi những điều riêng tư. Nhưng như một nghịch lý đầy bi cảm: “Nàng muốn diệt những ý tưởng làm vẩn đục tiếng hát, vậy thì nàng sẽ diệt cả chính mình". Cõi trần vốn đầy bụi, nếu diệt đi phần “đục" thì cũng đồng thời tiêu diệt luôn phần người, phần đời trong ta. Phải chăng tiếng hát của Bạch Dung khi trưởng thành, tiếng trống của già Lam trước phút giây từ giã cõi đời là biểu tượng của đỉnh cao thuần khiết trong nghệ thuật?

Mỗi con người là một nhân vị riêng. Dù là những bậc tài tử, giai nhân có sự đồng điệu hiếm có về tâm hồn, họ vẫn phải chịu sự trói buộc của định phận và những định kiến. Cảm thức tiếc nuối trong tác phẩm không chỉ nằm ở một sự kiện cụ thể mà là một phức hợp của những bi kịch về thời điểm, thân phận và sự thay đổi của lòng người. Xuyên suốt tác phẩm là những nỗi khổ muôn đời của kiếp người: “Cầu bất đắc, ái biệt ly". Dù có tài năng xuất chúng, thân phận của con người vẫn bị trói buộc bởi những xiềng xích của thời đại và định kiến xã hội. Có mấy ai dám đi ngược dòng để “sống như mình muốn"? Thông qua âm nhạc, các nhân vật nỗ lực phá bỏ những xiềng xích của định kiến xã hội, cổ tục và giai tầng. Tiếng hát và tiếng đàn trở thành biểu tượng, thành phương tiện để con người thể hiện khát khao ấy.

Dẫu biết đầm đìa máu chảy, thương tích đầy mình, Bạch Vĩ, Bạch Dung vẫn đã dùng tài năng, tình cảm chân thành để trên đường “băn khoăn đi tìm lẽ sống" đầy chông gai đó. Một cảm thức đầy hiện sinh trước quan niệm đã ăn sâu của thời đại, người ta không được quyền sống cho bản thân mình mà phải sống vì người khác, vì trách nhiệm, vai trò. Ngòi bút thấm đẫm sự trân trọng nỗ lực chống lại thế tục trong hành trình gian nan của từng nhân vật mang lại góc nhìn nhân văn và sâu sắc rất nhân loại, rất con người.

Giai điệu chữa lành và khát vọng tri âm

Âm nhạc trong Đàn Đáy không chỉ là thanh âm, mà là sự rung động sâu thẳm của tâm hồn. Khi Bạch Dung lần đầu nghe bà Bạch Vượng hát, đó là khoảnh khắc âm nhạc chạm tới cái cốt lõi của tính nhân văn. Tác phẩm thể hiện một sự trân trọng tuyệt đối đối với tài năng và cái đẹp, không phân biệt thân phận, giai tầng, đẳng cấp. Tác giả đã chạm đến cảnh giới của thẩm âm khi khai thác khái niệm “dư bạch", dư âm và tiếng vọng. Đó là sự cộng hưởng vô cùng giữa người hát và người nghe, giữa quy luật âm dương và những biến thiên của cuộc đời. Trong những giai đoạn bế tắc, mất phương hướng hay lỡ dở duyên nợ, âm nhạc xuất hiện như một liều thuốc chữa lành, sưởi ấm và nâng đỡ tâm hồn. Sức mạnh của âm nhạc tiếp thêm cho họ sự can đảm để tiếp tục sống sau những mất mát, thất vọng, tàn tạ của kiếp người và đối mặt với thực tại.

Mối quan hệ giữa các nhân vật trong tác phẩm được nâng tầm thành sự “tri âm, tri kỷ". Nếu như trong Truyện Kiều, phần “Gặp gỡ và đính ước", Kim Trọng dù yêu Thúy Kiều nhưng vẫn chưa thể thấu cảm hết nỗi niềm trong tiếng đàn của nàng, thì ở đây, Bạch Vĩ đã nỗ lực không ngừng để hòa điệu cùng tiếng hát của Bạch Dung. Đêm hát tại tư dinh Hồng Lĩnh hầu là minh chứng cho sự thăng hoa hoàn mỹ ấy, nơi kép đàn theo được tiếng hát của đào nương suốt trọn đêm dài. Đó chính là sự thỏa nguyện cho khát khao về một người tri âm. Sự gặp gỡ này, dù có khi chỉ là thoáng qua, cũng đủ để lấp đầy những khoảng trống cô độc trong tháng năm đằng đẵng của kiếp người.

Cảm hứng tìm hiểu liên văn bản và liên thể loại

Có thể nói, Đàn Đáy là sự khơi gợi cảm hứng, thôi thúc người đọc tìm hiểu về những tác phẩm văn học, về một giai đoạn lịch sử trung đại, về âm nhạc truyền thống của Việt Nam và cảm thức, triết lý phương Đông. Khi đọc Đàn Đáy, độc giả được tìm về với ca trù, với những bài bản nổi tiếng trên lời thơ của các danh sĩ như với Long Thành cầm giả ca, với Truyện Kiều của Nguyễn Du, với Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn, với Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị… thì người đọc cũng hiểu sâu hơn về nghệ thuật ca trù đã được khai thác trong nhiều bộ phim như Mê thảo - vang bóng một thời, Thương nhớ ở ai, Long Thành cầm giả ca… Hay âm hưởng, chất liệu ca trù trong các bài hát quen thuộc của âm nhạc Việt Nam hiện đại như Mái đình làng biển, Trên đỉnh Phù Vân, Không thể và có thể, Chiều phủ Tây Hồ, Chị tôi (thơ Đoàn Thị Tảo), Hà Nội linh thiêng hào hoa, Đất nước lời ru...

Như giáo sư Trần Văn Khê từng chia sẻ, kỳ vọng thế hệ trẻ mang trong mình sự tự hào về văn hóa dân tộc, âm nhạc dân tộc thì việc giao lưu, tiếp thu, hội nhập văn hóa quốc tế, sẽ không còn đáng ngại nữa mà là cơ hội để làm giàu thêm cái mình vốn có, giàu thêm văn hóa của mình. Mỗi người, đặc biệt là người trẻ khi đã thích, tự nhiên sẽ tìm hiểu để biết thưởng thức, thẩm định cái hay cái đẹp trong chiều sâu văn hóa nói chung và âm nhạc dân tộc nói riêng. Khi phông nền văn hóa được trang bị đầy đủ, ta sẽ có năng lực để hiểu, để thưởng thức, để học hỏi cái mới, để hòa nhập và phát huy mà không sợ bị hòa tan. Hi vọng, bạn đọc, đặc biệt là bạn đọc trẻ sẽ có những trải nghiệm đặc biệt khi đến với Tiểu thuyết Đàn Đáy của Trần Thu Hằng.

T.T.H

Nguồn: Văn nghệ Đồng Nai số 98 (Tháng 4 năm 2026)

TRẦN THỊ HIẾU

Liên kết webiste

Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử Hội Văn học Nghệ thuật thành phố Đồng Nai

 

Số lượt truy cập

Trong ngày:
Tất cả:

HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Địa chỉ: Số 30, Nguyễn Ái Quốc, phường Tam Hiệp, thành phố Đồng Nai
Điện thoại : 02513.822.992; Email: hvhnt@dongnai.gov.vn
Chịu trách nhiệm xuất bản: NSND. ĐD Giang Mạnh Hà - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật thành phố Đồng Nai.
Trưởng Ban biên tập: Phạm Văn Hoàng - Phó Chủ tịch Thường trực Hội Văn học Nghệ thuật thành phố ​Đồng Nai.