CHÀO MỪNG 90 NĂM THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (3/2/1930 - 3/2/2020); MỪNG XUÂN CANH TÝ 2020
DI SẢN VĂN HÓA CỦA NGƯỜI MẠ Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ - Một góc nhìn trong sự biến đổi


Huỳnh Văn Tới - Phan Đình Dũng

(Nguồn: Sách Mùa xuân đầu tiên - Nxb. Đồng Nai 2017)

 

Tóm tắt:

Người Mạ là cư dân bản địa, thuộc ngữ hệ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ me. Cộng đồng người Mạ sinh sống trên tập trung vùng miền núi khu vực Đông Nam bộ. Trong lịch sử phát triển tộc người, người Mạ có những mối liên hệ, giao thoa văn hóa với các tộc người khác. Cũng như bao dân tộc khác trên vùng đất này, người Mạ có đời sống vật chất và tinh thần khá phong phú.

Hiện nay, trong điều kiện xã hội có nhiều biến chuyển, đời sống của người Mạ có nhiều biến động từ môi trường sống đến sự tiếp biến văn hóa tộc người trên nhiều lĩnh vực. Trong đó, những loại hình di sản văn hóa của người Mạ đứng trước những nguy cơ bị mai một với nhiều yếu tố, nguyên nhân tác động. Từ góc nhìn trong sự tác động chung của xã hội, bài viết này có tính khái quát trong sự nhận diện về loại hình di sản của người Mạ, đồng thời nêu lên những biến đổi tác động đến di sản văn hóa của người Mạ, kiến nghị giải pháp cấp thiết trong nghiên cứu, bảo tồn di sản văn hóa của cộng đồng người Mạ.

1. Tổng quan về người Mạ

Người Mạ tự nhận là Cau Mạ - đọc là Chau Mạ. Từ Cau có ý nghĩa là Người. Người Mạ được định danh là một tộc người riêng biệt trong 54 cộng đồng dân tộc của Việt Nam. Xếp theo số lượng cư dân, người Mạ được xếp thứ 28/54 dân tộc. Về đặc điểm ngôn ngữ, người Mạ thuộc ngữ hệ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer.

Dân tộc Mạ là dân tộc bản địa, sinh sống trên địa bàn phía nam của Tây Nguyên và miền Đông Nam bộ. Hiện nay, người Mạ sinh sống tập trung trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, Đak Nông, Đồng Nai. Địa bàn sinh sống của người Mạ phần lớn là vùng rừng núi. Theo báo cáo kết quả chính thức tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1/4/2009 (tóm tắt) của Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương, dân số Mạ ở Việt Nam hiện nay là có khoảng 41.405 người. Tỉnh Đăk Nông có 5.997 người, Đồng Nai có 1.858 người, Lâm Đồng có khoảng 33.000 người.

Là một trong những tộc người lớn của ngữ hệ Nam Á trên vùng Nam Tây Nguyên, Đông Nam bộ, đời sống xã hội, tinh thần của người Mạ được thể hiện khá đa dạng và phong phú trên nhiều mặt. Cùng với các dân tộc thiểu số bản địa khác, những dân tộc cộng cư trong các thời kỳ lịch sử đã qua, văn hóa của người Mạ đã góp phần làm phong phú, đa dạng cho sắc thái chung của vùng đất Nam Tây Nguyên, miền Đông Nam bộ. Trong “vườn hoa” đa sắc về văn hóa tộc người, văn hóa Mạ hàm chứa những giá trị độc đáo.

2. Loại hình di sản văn hóa vật thể

2.1. Kiến trúc nhà dài

Kiến trúc nhà dài truyền thống của người Mạ là dạng thức kiến trúc độc đáo. Sinh sống trong môi trường rừng núi, người Mạ đã sáng tạo cho mình một loại hình cư trú phù hợp, thích ứng với thiên nhiên. Kiểu thức kiến trúc nhà dài là một trong những đặc điểm nổi bật của các dân tộc bản địa ở Tây Nguyên, miền Đông Nam bộ. Nhưng, nhà dài Mạ Người Mạ là kiểu thức kiến trúc “mở” so với nhà dài của các dân tộc khác. Kỹ thuật làm nhà dài Mạ khá đơn giản với dây buộc, sử dụng thế tự nhiên của vật liệu và liên kết phần sàn, vách, mái tưởng chừng như lỏng lẻo nhưng thực ra có sự cấu kết bền chặt. Nhà dài Mạ không đồ sộ, không uy nghi như nhà dài của các dân tộc khác mà mềm mại trở thành nét chấm phá tinh tế giữa vùng núi rừng bạt ngàn. Một làng Mạ cổ truyền với nhiều ngôi nhà dài hàng chục mét trở lên không chỉ phản ánh một chức năng cư trú cộng đồng mà còn là những tác phẩm đầy màu sắc trong cảnh quan thiên nhiên đẹp đẽ. Ở đó, kiến trúc nhà dài được ví sánh như những nàng sơn sữ dịu dàng với mái nhà cân đối, hài hòa nhưng cũng đầy kiêu hãnh bởi những ánh mắt nhìn là các vòm cửa có dáng dấp hình “mu rùa, mái khum”.

2.2. Trang phục truyền thống

Áo bằng vỏ cây là một sáng tạo từ xa xưa của người Mạ, cũng như một số dân tộc bản địa vùng Tây Nguyên, miền Đông Nam bộ. Sản phẩm được chế tác từ vỏ cây phản ánh sự thích ứng, linh hoạt trong khai thác tự nhiên để tồn tại. Do sự phát triển của xã hội, loại áo này đã trở thành hiện vật của “một thời dĩ vãng”, dành cho những ai ngậm ngùi hoài cổ.

Trang phục từ thổ cẩm là sản phẩm vốn từ nghề dệt của một số dân tộc trên vùng Tây Nguyên, miền Đông Nam bộ. Nhưng, sản phẩm thổ cẩm của mỗi dân tộc có những nét riêng. Đối với người Mạ, trang phục không chỉ có chức năng che bọc cơ thể mà còn làm nổi vẻ đẹp của cơ thể một cách nổi bật nhất. Đây cũng là một yếu tố thể hiện sức mạnh của đàn ông hay sự dịu dàng của phụ nữ, đồng thời, thể hiện tính duy mỹ của cộng đồng Mạ. Từ tri thức dân gian, kinh nghiệm được truyền lại của bao thế hệ, người Mạ đã làm ra những bộ trang phục với những màu sắc tự nhiên, trang trí bằng những họa tiết, hoa văn đa dạng thể hiện tư duy của cộng đồng về thế giới quan, nhân sinh quan. Từ vải dệt thổ cẩm, người Mạ đã làm ra những chiếc váy, áo, khố… là những tác phẩm nghệ thuật đầy tính sáng tạo.

2.3. Công cụ lao động, vật dụng sinh hoạt

Công cụ lao động truyền thống của người Mạ là những sản phẩm do chính họ làm ra để đáp ứng yêu cầu trong sinh hoạt, sản xuất. Đặc biệt, trong môi trường núi rừng bạt ngàn, người Mạ với phương thức canh tác nương rẫy, đã nhanh chóng thích ứng, sáng tạo ra những công cụ phù hợp phục vụ cho quá trình lao động của mình. Từ nghề rèn, nghề đan lát, người Mạ đã chế tác những công cụ, vật dụng như: chà gạc, dao côi, giáo, chiếc gùi… vừa có tính phục vụ cho đời sống sinh hoạt, lao động còn thể hiện giá trị thẩm mỹ cao. Một số công cụ, vật dụng được tạo hình và trang trí thể hiện tính nghệ thuật độc đáo. Trong đó, những chiếc dao nhỏ cũng được sử dụng là vật trang sức đặc biệt cho con người. Chà gạc là công cụ đồng thời là vũ khí thể hiện bản lĩnh của người đàn ông. Chiếc gùi đan một cách kỹ càng, có tính năng cao trong sử dụng và cũng là một tác phẩm được tạo hình đầy sáng tạo gắn liền với người phụ nữ Mạ.

2.4. Nhạc cụ truyền thống

Người Mạ dùng nhiều loại nhạc cụ trong sinh hoạt đời sống tinh thần. Nhạc cụ của người Mạ có những nét tương đồng với các dân tộc bản địa vùng Tây Nguyên, miền Đông Nam bộ. Phần lớn các dụng cụ này dựa trên cách dùng sức hơi, dây rung, tiếng vang (lực tác động từ ngoài vào). Có thể kể đến một số loại nhạc cụ của người Mạ như sau: Kèn, sáo, cồng chiêng, đàn tre… Cồng chiêng vừa là tài sản quý nhưng cũng đồng thời là vật thiêng. Cũng như các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, miền Đông Nam bộ, người Mạ không chế tác ra cồng chiêng mà mua lại, trao đổi từ các dân tộc khác. Một số ý kiến cho rằng, cồng chiêng được người Mạ mua, trao đổi với người Kinh. Cũng có những bộ cồng chiêng được trao đổi với các dân tộc phía tây bắc người Mạ là Lào, Miến Điện (Mianma ngày nay). Dẫu loại nhạc cụ này có nguồn gốc từ đâu, nhưng đây là loại nhạc cụ quan trọng được người Mạ dùng trong những dịp lễ quan trọng của cộng đồng và gia đình. Những bài bản diễn tấu cồng chiêng của người Mạ là một trong những yếu tố góp phần làm nên “không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” vốn được liệt vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Một số loại nhạc cụ khác như khèn bầu, đàn tre, sáo… thể hiện tính năng độc đáo của chúng và sự sáng tạo của người Mạ khi chế tác để phục vụ cho đời sống tinh thần cộng đồng.

3. Loại hình di sản văn hóa phi vật thể

3.1. Tri thức dân gian

Trải qua quá trình tồn tại, các thệ người Mạ đã tích lũy nhiều tri thức dân gian phục vụ cho cuộc sống của cộng đồng. Đặc biệt, trong môi trường tự nhiên của vùng rừng núi, để thích ứng, người Mạ phải linh hoạt, nhanh nhạy nắm bắt các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên để ứng phó, đối xử một cách hợp lý, hiệu quả nhất. Tri thức dân gian của người Mạ thể hiện trong nhiều lĩnh vực: cách thức làm nhà sàn để sống tránh cái lạnh, ẩm ướt, chống thú dữ, nắm bắt được thuộc tính kim loại để rèn công cụ, vũ khí, sử dụng thực vật để nhuộm chỉ, dệt vải, dùng lá cây làm thuốc chữa bệnh, săn bắt thú rừng, nhận biết tính chất của thực vật để chế biến thức ăn, thức uống, tiêu biểu là loại rượu cần… Đặc biệt, là kinh nghiệm về thời tiết để canh tác sản xuất, trồng lúa rẫy… Những tri thức dân gian được tích lũy, bổ sung ngày càng nhiều hơn, phong phú hơn bởi các thế hệ và thời gian về sau.

3.2. Tín ngưỡng lễ hội

Tín ngưỡng truyền thống của người Mạ là vạn vật hữu linh/mọi vật đều có linh hồn. Người Mạ tin vào một thế giới siêu hình tồn tại song song với thế giới thực tại mà họ đang sống. Thế giới siêu hình đó là nơi tồn tại có những thần linh hay ma quỷ có khả năng chi phối đến đời sống con người.

Từ xác niệm này, người Mạ thể hiện cách ứng xử của mình. Gắn liền với tín ngưỡng truyền thống này, cộng đồng người Mạ tiến hành nhiều lễ thức liên quan đến đời sống con người, đến cộng đồng hay gia đình, đến chu kỳ vòng cây trồng; đặc biệt là lúa rẫy - cây lương thực chính. Trong một năm, người Mạ tổ chức nhiều lễ cúng với những nghi thức phù hợp. Lễ hội liên quan đến cây trồng gồm có: Lễ chia đất sản xuất, lễ cúng thần rừng (Nhô năng bri), lễ cúng đường vào rẫy, lễ tỉa lúa, lễ mừng khi lúa lớn, lễ mừng lúa trổ bông, lễ chuẩn bị thu hoạch lúa, lễ thu hoạch lúa, lễ mừng lúa mới. Lễ cúng gắn liền sinh hoạt cộng đồng của buôn làng, gia đình: Lễ cúng Thần Núi, lễ cúng bến nước, lễ cúng nhà bếp… Đặc biệt, trong các lễ hội của người Mạ, ngoài những lễ vật, ngôn ngữ cầu khấn với nhiều nghi thức, đặc biệt có nghi thức hiến tế huyết con vật cúng như gà, dê, heo, vịt, trâu.

Lễ hội lớn nhất của cộng đồng Mạ là lễ hội mừng ăn lúa mới trong đó có hình thức hiến sinh bằng con trâu - loại gia súc quen thuộc và là tài sản có giá trị cao của người Mạ. Đây là lễ hội người Mạ tạ ơn thần linh, tổ tiên đồng thời gắn kết trong cộng đồng Mạ. Khi đâm trâu, bò và heo (hoặc dê) xong họ xẻ thịt ngay và nướng trên đống lửa được đốt sẵn, rồi chia cho cộng đồng cùng ăn và uống rượu cần. Trong buổi lễ, các thanh niên nam nữ Mạ vui múa, nhảy hát, tấu diễn nhạc cụ, người già thì uống rượu cần, hát kể cho nhau nghe về cộng đồng. Lễ hội là nét sinh hoạt văn hóa sinh động thu hút được sự tham gia của cộng đồng.

3.3. Phong tục tập quán

Trong cộng đồng người Mạ, luật tục có một vai trò quan trọng. Luật tục này đề cập nhiều lĩnh vực trong đời sống của người Mạ. Chính người Mạ tin rằng, thần linh tối cao đã sai phái các thần, các anh hùng đến để truyền dạy cho tổ tiên mình những kinh nghiệm sống, cách ứng xử với thần linh, hành xử trong cuộc sống, bày vẽ cho các nghề để sinh sống, đặt ra những lề lối, quy định những điều nên làm và những điều cần kiêng kỵ… Vì không có chữ viết nên luật tục được truyền miệng từ thế hệ đi trước cho thế hệ sau. Các thế hệ cứ nối tiếp nhau thực hiện. Đây là đặc điểm chung của các dân tộc bản địa trên trên vùng Tây Nguyên, miền Đông Nam bộ với những luật tục của mình.

Luật tục có những tác động tích cực trong đời sống xã hội người Mạ, đặc biệt, trong thời kỳ mà xã hội Mạ chưa định hình khung pháp luật như đời sống hiện tại. Ngoại trừ những tập tục mang tính chất mê tín, ảnh hưởng tiêu cực đối với chính cộng đồng Mạ thì những tập quán, phong tục đã thể hiện được sự gắn kết các thành viên gia đình, cộng đồng. Chính sự tuân thủ luật tục mà các giềng mối, quan hệ xã hội Mạ được duy trì tốt đẹp. Loại bỏ những tính chất rườm rà, trong các tập tục, thì nét đẹp văn hóa, tính tích cực của phong tục Mạ phản ánh cách ứng xử của người Mạ với thần linh, với tổ tiên, cộng đồng… là những giá trị di sản cần được bảo tồn. Liên quan đến phong tục tập quán, đặc biệt với chu kỳ vòng đời người, những lễ thức trong hôn nhân, tang ma… thể hiện những giá trị truyền thống được lưu truyền trong cộng đồng Mạ trải qua nhiều thế hệ. Cũng như mọi công dân của các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam, người Mạ đều chịu sự chi phối bởi hệ thống pháp luật do nhà nước ban hành. Dẫu sống trong xã hội pháp luật, nhưng cộng đồng người Mạ cũng còn bị chi phối bởi những luật tục, đặc biệt trong những cách ứng xử, thực hiện các nghi lễ truyền thống.

3.4. Nghệ thuật ẩm thực

Ẩm thực người Mạ khá đơn giản với nguồn lương thực chính từ lúa. Thế nhưng, kinh nghiệm chế biến thức ăn, đồ uống từ các loại thực vật khai thác từ môi trường tự nhiên thể hiện sự sáng tạo của người Mạ. Kinh nghiệm từ nhận biết tính chất hóa lý, sinh học của thực vật, người Mạ đã sử dụng nhiều loại rau, quả trong chế biến thức ăn đáp ứng nhu cầu cần thiết hằng ngày của mình. Trong điều kiện sống với nền kinh tế tự cung tự cấp, sự sáng tạo này đã góp phần cho sự đấu tranh, tồn tại của cộng đồng Mạ. Ẩm thực của người Mạ vừa có giá trị dinh dưỡng đối với nhu cầu cung cấp năng lượng cho cơ thể, đồng thời phản ánh giá trị nghệ thuật trong cách chế biến. Một số thức ăn, đồ uống tiêu biểu của người Mạ như canh lá nhíp, đọt mây nướng, bánh nếp… và đặc biệt là loại rượu cần là đặc trưng chung cho nghệ thuật ẩm thực chung của các cư dân bản địa vùng miền Đông Nam bộ như Mạ, S’tiêng, Chơ ro, Mơ nông.

3.5. Nghệ thuật dân gian

Trong di sản chung của văn hóa người Mạ, nghệ thuật dân gian thể hiện trên nhiều mặt như: nghệ thuật múa, loại hình kiến trúc nhà ở, nghệ thuật tạo hình công cụ, nghệ thuật trang trí trên vật dụng, trang phục, trang sức, cây nêu… Nghệ thuật múa Mạ không chỉ phản ánh đời sống sinh hoạt, lao động hằng ngày mà còn đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần Mạ. Những hoa văn, họa tiết được trang trí trên các loại hình sản phẩm, công cụ, kiến trúc… không chỉ phản ánh sự khéo léo, tài hoa của các nghệ nhân Mạ mà còn là những tác phẩm nghệ thuật với biểu trưng đa tầng đa nghĩa về thế giới quan, nhân sinh quan của người Mạ.

3.6. Văn học, âm nhạc dân gian

Cư dân Mạ có kho tàng văn hóa rất phong phú và sống động. Hiện nay, người Mạ còn bảo lưu nhiều chuyện cổ, thần thoại, truyền thuyết gắn liền với lịch sử của cộng đồng; phản ánh sự nhận thức của họ về vũ trụ, thế giới, thần linh, nguồn gốc, những cuộc đấu tranh của cộng đồng qua bao thời kỳ lịch sử. Vì không có chữ viết nên văn chương truyền miệng của người Mạ được lưu truyền chắc chắn có nhiều thay đổi, biến đổi và bị mai một. Đặc biệt, nghệ thuật hát kể của người Mạ là một trong những nét văn hóa độc đáo, có những nét tương đồng với các dân tộc bản địa trên cùng một địa vực cư trú. Loại hình Tăm pơt Mạ là thể thức hát giao duyên khá độc đáo. Cách thức thể hiện và trình bày ngôn ngữ trong loại hình văn học dân gian Mạ cần được nghiên cứu chuyên sâu để nhìn nhận được giá trị đầy tính nghệ thuật này. Bên cạnh nguồn di sản văn học dân gian, người Mạ còn bảo lưu những nhạc cụ và các bài bản tấu diễn thể hiện nét riêng so với các dân tộc bản địa khác. Loại hình dân ca Mạ khá đa dạng nhưng hiện nay chưa có công trình sưu tầm đầy đủ.

4. Những yếu tố tác động đến biến đổi văn hóa Mạ

4.1. Biến động xã hội

Trong quá trình phát triển, xã hội người Mạ đã trải qua nhiều biến động của lịch sử. Vì vậy, đời sống xã hội, di sản văn hóa của người Mạ đã chịu những tác động, ảnh hưởng. Một số tư liệu cho biết, bộ tộc Mạ hình thành trên cơ sở của những liên minh bộ lạc Kơ ho, Srê, Nộp, Chơ ro…

Vào cuối thế kỷ XVII, bộ tộc Mạ đã phát triển thành một tiểu vương quốc. Sinh sống cùng các dân tộc bản địa như Mơ nông, S’tiêng, Kơ ho, Chơ ro… trên địa bàn, văn hóa của người Mạ có những giao lưu, tiếp thu, tiếp biến với văn hóa của các dân tộc trên. Vì vậy, một số đặc điểm trong sinh hoạt, xã hội của người Mạ có những điểm tương đồng với các dân tộc này. Quá trình tồn tại, giữa tộc người Mạ cũng như các dân tộc khác trên địa bàn, đặc biệt với người Chăm ở phía Đông đã xảy ra những xung đột với nhau. Điều này được nhắc đến trong những những chuyện kể được lưu truyền trong cộng đồng Mạ. Sau này, với chính sách mở rộng cương thổ về phía Nam, những chính sách của các triều vua Nguyễn (Việt Nam) đã tác động mạnh đến tộc người Mạ với sự xuất hiện của người Kinh đến khai khẩn. Thời gian về sau, đặc biệt trong thế kỷ XX, xã hội người Mạ có những biến đổi khá sâu sắc. Đó là khi số lượng người Kinh đến sinh sống trong địa bàn cư trú chính của người Mạ càng đông đảo, sự xuất hiện của người Pháp (thời kỳ thống trị Việt Nam và tư bản Pháp ở rộng phát triển cây công nghiệp) khi khai mở các đồn điền, cùng những biến động trong thời kỳ Việt Nam tiến hành chiến tranh chống ngoại xâm (1954 - 1975) và các chính sách xây dựng và phát triển vùng miền núi sau ngày thống nhất đất nước (1975 trở về sau). Cùng với những thay đổi, định đặt thể chế hành chánh trong quản lý, cơ cấu xã hội người Mạ đã dần thay đổi.

Về cơ cấu xã hội truyền thống, từng nhóm người Mạ cư trú thành từng làng (bon) với khu vực đất đai được phân định riêng biệt. Đứng đầu trong buôn là một vị thủ lĩnh (già làng). Giải quyết các vấn đề liên quan đến mọi sinh hoạt của làng đều thông qua luật tục được lưu truyền trong cộng đồng. Già làng đứng ra phân xử dựa trên cơ sở luật tục. Hiện nay, cơ cấu xã hội này không còn duy trì. Chức danh già làng vẫn tồn tại nhưng chỉ mang ý nghĩa tinh thần trong cộng đồng người Mạ. Địa bàn sinh sống của người Mạ không còn khu biệt mà có sự tham gia cộng cư của nhiều thành phần các dân tộc: Chơ ro, S’tiêng, Kinh, Tày, Nùng, Hoa… Tập quán cư trú nhà dài theo chế độ đại gia đình không còn phổ biến. Người Mạ hình thành và định hình trong những hộ gia đình với sự độc lập về kinh tế. Vì vậy, kiến trúc nhà dài ngày nay càng vắng bóng trong các địa bàn người Mạ sinh sống. Nhà sàn ngắn được duy trì, khá phổ biến nhưng không có tính độc lập mà gắn liền với kiến trúc nhà ở theo lối của người Việt chiếm đa số. Một điểm khác cơ bản giữa các dân tộc trên địa bàn như Kơ ho, Chil… người Mạ dã xác lập chế độ phụ hệ khá vững chắc trong hôn nhân và gia đình. Cơ cấu xã hội và kết cấu cư trú gia đình cổ truyền của người Mạ đã có những thay đổi lớn và tác động đến sự biến đổi, mai một, mất đi những nét văn hóa cổ truyền.

4.2. Chính sách phát triển kinh tế

Từ hoạt động kinh tế chính của người Mạ chủ yếu là “ăn rừng” với khai thác nguồn lợi từ thiên nhiên với các phương thức săn bắt, hái lượm, trồng lúa rẫy phụ thuộc vào thiên nhiên… đời sống kinh tế của người Mạ có nhiều thay đổi kể từ khi nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách định canh định cư. Lối canh tác hưu canh của người Mạ không còn duy trì. Việc khai thác tự nhiên bị chế tài bởi quy định bảo vệ nguồn tài nguyên rừng, thiên nhiên. Bên cạnh đó, người Mạ còn được phổ biến, khuyến khích phát triển nông nghiệp trồng lúa nước, đặc biệt, phát triển trồng cây lương thực, cây công nghiệp theo mô hình, phương thức sản xuất tiên tiến. Kinh tế người Mạ thoát khỏi tình trạng tự cung tự cấp. Các yếu tố trên từng bước cải thiện kinh tế hộ gia đình của người Mạ. Những biến đổi trong hoạt động kinh tế đã là thay đổi đáng kể trong những kinh nghiệm, phương thức sản xuất thô sơ của người Mạ. Hệ quả tất yếu là những nghi thức, tập quán trong nông nghiệp lúa rẫy người Mạ bị giản lược. Người Mạ biết áp dụng các lĩnh vực khoa học kỹ thuật vào trồng trọt chăn nuôi. Điều này phản ánh sự chuyển biến tích cực song cũng từng bước làm phai nhạt đi tính chất cố kết của từng dòng họ trong canh tác truyền thống, cùng với những thay đổi mạnh mẽ về lối cấu trúc cư trú. Các ngành nghề thủ công, hoạt động trao đổi hàng hóa của người Mạ vẫn chưa phát triển, mang tính chất thụ động và chỉ đáp ứng nhu cầu của cộng đồng.

4.5. Tiếp xúc, giao thoa văn hóa tộc người

Trong quá trình cộng cư, tiếp xúc giao thoa với các tộc người khác, hiện nay, trang phục, trang sức truyền thống không còn sử dụng phổ biến trong cộng đồng người Mạ. Trang phục, trang sức truyền thống thường được người Mạ lớn tuổi sử dụng trong các lễ tiết gia đình hay ngày hội chung của cộng đồng. Quan niệm thẩm mỹ của giới trẻ khác xưa và nhanh nhạy trong tiếp cận những điểm mới của xã hội. Vì vậy, giới trẻ Mạ chỉ mặc trang phục, dùng đồ trang sức trong những hoạt động mang tính chất trình diễn. Quá trình giao lưu, tiếp xúc với người Kinh và các tộc người khác, việc sử dụng trang phục, trang sức truyền thống của người Mạ có những biến đổi lớn. Người Mạ sử dụng khá phổ biến những loại trang phục, trang sức của người Việt do sự giản tiện, thuận lợi trong sinh hoạt và có tính thẩm mỹ phổ quát trong cuộc sống hiện tại. Tục căng tai đã không còn duy trì, những dấu vết của tục này chỉ còn được bảo lưu ở những người cao niên.

Hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu đầy đủ, sưu tầm đầy đủ về luật tục Mạ. Một số công trình chỉ giới thiệu một cách rời rạc với những gì thu thập được. Ngoài tín ngưỡng truyền thống, hiện nay trong cộng đồng người Mạ, có nhiều người đã tiếp nhận các tôn giáo mới như Thiên Chúa giáo, Tin Lành. Từ năm 1949, người Pháp đặt ra chữ Kơ ho để tạo điều kiện cho các nhà truyền giáo phổ biến rộng rãi trong vùng các dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng. Nhờ có bộ chữ vần Kơ ho này, công việc truyền bá đạo Thiên Chúa giáo có những thuận lợi để phổ biến sách kinh. Các dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng, Đồng Nai trong đó có người Mạ đã tiếp thu cách học bộ chữ này. Sự truyền giáo của các giáo sĩ ngày càng được đẩy mạnh, đặc biệt trong giai đoạn miền Nam trước năm 1975 đã làm gia tăng số lượng tín đồ đạo Thiên Chúa, Tin Lành đối với cộng đồng người Mạ. Nhiều địa bàn người Mạ sinh sống đã hình thành nên những nhà nguyện, nhà thờ, giáo xứ. Những điểm khác biệt trong giáo lý của tôn giáo mới và tín ngưỡng truyền thống đã tác động đến những tập tục sinh hoạt, lễ nghi trong cộng đồng người Mạ theo đạo.

Quá trình định cư, chung sống và phát triển với các dân tộc khác trên địa bàn sinh sống hay mở rộng hơn cũng là một trong những yếu tố tác động đến những biến đổi khác trong cộng đồng người Mạ. Nghi lễ vòng đời của người Mạ đã có nhiều biến đổi. Tập quán trong hôn nhân của người Mạ mở rộng với các tộc người khác nên dẫn đến nhiều trường hợp hôn nhân ngoại tộc. Một số tập tục trong hôn nhân dần bị loại bỏ như tục hứa hôn, thách cưới, nối dây và hôn nhân cận huyết… Lễ thức về lễ cưới, tang ma hay trong sanh đẻ, chữa bệnh… đã biến đổi nhiều. Số người Mạ có đạo thì tổ chức theo điều luật, giáo nghi theo lễ thức tôn giáo. Những người còn bảo lưu tín ngưỡng truyền thống thì có lễ thức có những giản lược do điều kiện kinh tế cũng như tiếp thu cách thức tổ chức của người Kinh. Tuổi kết hôn của người Mạ cao hơn trước. Nghi lễ trong đám tang không còn kéo dài nhiều ngày. Trong điều kiện sống được đầu tư về nhiều mặt của nhà nước, người Mạ đã có những chuyển biến tích cực trong nhận thức, tiếp cận phương pháp phòng, chữa bệnh có tính khoa học, đến với cơ sở y tế ở cơ sở. Điều này hoàn tác khác trước đây là chỉ dựa vào những người thầy cúng chữa trị trong buôn làng. Việc sanh đẻ của người phụ nữ, nuôi dưỡng con cái cũng không còn áp dụng những cách thức lạc hậu.

5. Kiến nghị trong chính sách bảo tồn

Cộng đồng Mạ có đời sống văn hoá tinh thần phong phú. Những giá trị di sản văn hóa của người Mạ thể hiện qua tín ngưỡng, lễ hội, văn hoá, văn học, nghệ thuật dân gian khá độc đáo… nhưng hiện nay đang dần bị mai một nghiêm trọng do nhiều yếu tố tác động. Có những yếu tố, tác động, ảnh hưởng manh tính tích cực như việc loại bỏ những hủ tục, mê tín, tập tục, xóa bỏ sự rườm rà, lãng phí trong lễ thức cổ truyền. Có những tác động, ảnh hưởng tiêu cực đến những giá trị di sản. Lớp người Mạ lớn tuổi ngày càng ít dần do tuổi tác đồng nghĩa với những cơ sở của kinh nghiệm sống, sự hiểu biết về luật tục, tri thức dân gian… của cộng đồng sẽ dần mất đi. Trong khi đó, thế hệ trẻ người Mạ thích nghi nhanh với xã hội hiện đại, ít quan tâm đến di sản văn hóa của cộng đồng.

Trong chiến lược đẩy mạnh phát triển nông thôn hiện nay, đặc biệt đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhiều giá trị di sản các dân tộc của Việt Nam đứng trước những nguy cơ và thách thức cho sự tồn tại. Di sản của cộng đồng người Mạ nói chung, di sản văn hóa của từng loại hình nói riêng cũng không nằm ngoài quy luật này. Vì vậy, nhà nước cần có chính sách đầu tư để sưu tầm, bảo tồn và phát huy trong đời sống hiện tại, góp phần đem lại sự cải thiện về đời sống kinh tế, nâng cao nhận thức của thế hệ trẻ người Mạ về giữ gìn di sản của cộng đồng. Đặc biệt, nhà nước cần có đầu tư chương trình nghiên cứu Tổng điều tra văn hóa vật thể của cộng đồng người Mạ trên địa bàn nam Tây Nguyên, miền Đông Nam bộ trong thời gian sớm nhất. Từ đó, tìm kiếm những giải pháp hữu hiệu để bảo tồn và phát huy những giá trị di sản của cộng đồng người Mạ trong biến đổi tất yếu của xã hội hiện nay.

H.V.T - P.Đ.D