CHÀO MỪNG 47 NĂM HÒA BÌNH, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975 - 30/4/2022) - Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh!
CÒN LẠI MÃI VỚI MAI SAU


 Bút ký của đàm chu văn

 (Tạp chí Văn nghệ Đồng Nai số 45)


Đến hôm nay, những bà mẹ Việt Nam anh hùng trong những câu chuyện này đều đã không còn nữa, nhưng chuyện các bà kể về những người thân của mình hy sinh cho cách mạng vẫn còn lại mãi với mai sau, nhắc nhớ về tình yêu Tổ quốc cao đẹp.

*Con tôi nó hiền, ngoan lắm, biết thương cha mẹ lắm!

Trên bàn thờ nhà má Huỳnh Thị Bé có hai tấm hình hai thiếu niên: một khoảng mười ba - mười bốn, một khoảng mười lăm - mười sáu. Đấy là hai anh em ruột, hai người con trai duy nhất của má. Thời điểm các anh chụp hình cũng gần với thời điểm các anh đi tham gia kháng chiến. Người anh lớn: Trần Văn Thành sinh năm 1949, tham gia cách mạng ngày 15-10-1965, là chiến sĩ bảo vệ Thị ủy Biên Hòa. Anh hy sinh tháng 2-1969 tại xã Hưng Lộc, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Người em là Trần Văn Thơ (tự Công) sinh năm 1952, tham gia cách mạng tháng 9-1969, là nhân viên báo vụ Ban Thông tin Phân khu V. Anh hy sinh ngày 20-7-1972 tại bờ sông Đồng Nai trong một chuyến đi tải hàng cho đơn vị, lọt vào ổ phục kích Mỹ. Đơn vị không sao tìm được xác anh. Có một điều trùng hợp đau xót là cả hai anh đều hy sinh ở tuổi hai mươi.

Bà Huỳnh Thị Bé và ông Trần Văn Châu, nguyên quán ở xã Hành Phước, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Khi sinh người con thứ hai chưa được một tháng, thì máy bay Pháp bắn phá liên miên ở vùng quê. Ở trong nhà nó bắn. Nó thả bom napan cháy rụi tất cả. Bà phải ôm con ra nằm ngoài gò bãi dãi dầu sương nắng. Cái lạnh của đất sương, mưa gió đã nhiễm vào cơ thể bà, làm bà đau ốm liên miên. Quãng năm 1959, có người mách bệnh viện Chợ Rẫy có thể chữa khỏi chứng bệnh của bà, thế là ông Trần Văn Châu đem cả vợ con vào Sài Gòn để chữa bệnh.

Người con lớn lúc đó mới hơn mười tuổi, ông Châu cho ở bệnh viện chăm sóc mẹ. Còn người con nhỏ mới 7 tuổi, ông mang theo về Hưng Lộc (Trảng Bom) làm mướn cho các chủ vườn lấy tiền nuôi con, nuôi vợ. Khi bà Bé lành bệnh, ông bà quyết định ở lại đất Hưng Lộc sinh sống.

Một ngày cuối thu năm 1995, chúng tôi đến thăm lúc má Huỳnh Thị Bé vừa ở bệnh viện về, gương mặt hốc hác, nước da xanh rớt, bước đi không vững phải chống gậy. Hỏi chuyện về những người con lại đụng đến vết thương đau đớn trong tâm can má. Vừa kể về các anh, má vừa khóc. Má kể: Thằng lớn học hết lớp nhất, đi thi với bạn bè trên Biên Hòa, trong thời gian chờ đợi đi học tiếp, nó đi phụ rẫy với ba. Được vài tháng, gặp mấy ổng trong cứ ra, thế là nó xin phép đi theo luôn. Được vài năm, nó sợ thằng em phải đi lính chống lại “đằng mình”, thế là nó về mang em đi. Tội nghiệp con tôi! Nó hiền, ngoan lắm, biết thương ba má lắm! Hồi theo nuôi tôi ở Chợ Rẫy, nó phụ chăm sóc người cùng trị bệnh, người ta cho đồng bạc, cái bánh mì, nắm xôi nó đều mang về cho má. Tôi nói: Con ăn đi, má không ăn đâu! Nó nói: Thôi má ăn đi, con ăn rồi! Kỳ thực nó đã ăn cái gì đâu. Khi nó đi theo cách mạng, tôi sắm cho cái đồng hồ lên dây, cho thằng em nó cái đồng hồ tự động. Sau nó đổi cho thằng em. Sau này nó bị tụi lính ngụy phục kích bắn chết, chúng lấy chiếc đồng hồ của con tôi bán chia nhau. Chúng đốt cháy xác con tôi phơi ở ngoài rẫy rồi về kháo nhau: Cả làng ra mà ăn thịt bò thui. Tôi nghe mà đứt từng khúc ruột. Thằng lớn đóng ở gần, thỉnh thoảng tôi còn gặp, đem đồ tiếp tế. Thằng em ra đi là đi biệt mãi…


*Ký ức về người chồng và hai người con hy sinh

Má Lê Thị Cơ sinh năm 1929, quê quán ở ấp Hố Bò, xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Má dời về ấp Vườn Ngô, Trảng Bom làm công nhân đồn điền cao su quãng năm 1967. Má có chồng và hai con hy sinh cho cách mạng.

Ông Lục Văn Đon chồng má, nhập ngũ Vệ Quốc đoàn tháng 9-1945, qua suốt cuộc kháng chiến chống Pháp đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, khi hy sinh năm 1965 đã  là Trung đoàn phó Đoàn 33 Quân Giải phóng. Hai ngưòi con của ông bà: anh Lục Văn Quân, sinh năm 1949, nhập ngũ năm 1962, cấp bậc: trung sĩ, đơn vị: Đoàn 83, Cục Hậu cần Miền, hy sinh ngày 20-5-1966. Chị Lục Cẩm Vân, sinh năm 1953, nhập ngũ năm 1966. Trong một chuyến đi công tác, chị Vân bị địch bắt. Tra tấn tàn bạo không khai thác được ở chị, kẻ địch đày chị ra Côn Đảo. Ngày 30-3-1969, chị đã hy sinh anh dũng sau một đợt tra tấn dã man của kẻ thù. Trong vòng bốn năm, má Cơ mất đi ba người thân yêu nhất. Chồng má hy sinh đang ở tuổi 33 tràn đầy sức sống. Hai người con nhập ngũ khi mới muời ba tuổi, hy sinh ở tuổi 16 - 17 còn rất trẻ.

Bây giờ, sau hai, ba chục năm đã qua đi, những vết thương đã thành sẹo, nhưng những kỷ niệm về những người thân, về những lần gặp cuối cùng vẫn còn tươi ròng trong tâm trí má.

Má kể: Bữa ông Đon chỉ huy bộ đội đánh trận Tua Hai, nghe đồn ổng hy sinh, tôi vội đi theo đường công khai dẫn cả mấy đứa nhỏ. Tới đó, mới biết là không phải và nhờ cơ sở móc ổng ra. Chờ hoài cả tuần không gặp phải về vì ông ấy còn bận đi họp xa. Ít lâu sau có đợt đi theo đường dây (giao liên), đi bộ 7 ngày, 7 đêm mới tới trển. Lúc đó ông ấy đi họp mới vừa về. Tôi ở lại căn cứ hai mươi ngày, có thai thằng nhỏ áp út. Sau đó, tôi về tập hợp chị em đấu tranh chính trị đợt nhì, bị chúng bắt giam gần cả năm, phải đẻ con trong tù. Tôi đi hoạt động, bà già chồng không biết, bả "rên" dữ lắm. Có bữa đi công tác nửa đêm mới về, bà cho mấy đứa nhỏ ràng cửa không cho vô. Tôi đẻ con nhỏ út được tháng mấy thì ổng về. Bữa đó, tôi gửi con ở nhà, dẫn theo 8 chị em đi mua hàng tiếp tế tận Trảng Bàng (Tây Ninh) cho bệnh xá bộ đội mình. Ổng về nằm võng, ẵm nựng con rồi mệt quá ngủ liền. Con nhỏ vẫn nằm trong lòng ổng. Tôi về, mua nửa ký thịt, bánh tráng, bún, kiếm rau càng cua về làm bữa. Ăn xong, thì ổng đi. Ôm vai tôi, ổng nói: anh đi đợt này, lâu mới được về. Ai ngờ đấy là lần gặp cuối cùng. Đơn vị ổng hồi đó đóng ở Cổ Tránh, xóm Chùa, Dầu Tiếng, Tây Ninh. Nghe tin ông ấy hy sinh, tôi tìm được tới nơi thì họ vừa lấp đất kín quan tài.

Thằng Quân, con tôi lúc đó cũng đã đi bộ đội. Mấy ảnh ở đơn vị về nói để cho nó ra Bắc học. Tôi nói, có nó là con trai lớn, giờ đi xa, biết đâu kiếm? Năm sau, đơn vị lại cho người về nói nữa, tôi vẫn không chịu. Sau các ảnh cho nó đi học văn hóa ở căn cứ trên núi Bà Đen. Bữa ba nó hy sinh, các ảnh không cho biết vì nó đang thi. Thi xong, về nhà nó mới biết. Thằng ấy gan lắm. Bị sốt rét, về nhà lên cơn, nằn run "xạch xạch" trên võng mà không rên một tiếng. Lần tôi đi Bình Dương, nó về thăm không gặp. Về hỏi mấy đứa, chúng nói, anh Hai về căng võng ngủ một đêm rồi đi. Ảnh nói tính về xin má mấy nghìn. Anh xin tiền má mua bông tặng cô nào? - Mấy đứa hỏi giỡn. Anh xin để mua chiếc xe đạp làm chân đi. - Nó nói thật. Mấy đứa nói: “Má cho anh chiếc xe đạp, anh cứ lấy xe của má mà đi”. Không được! - Nó lắc đầu - Xe của má, anh lấy đi, má không có xe làm sao đi mua đồ, làm sao nuôi được tụi em. Đấy cũng là chuyến về thăm cuối cùng. Ít bữa sau, nó hy sinh cùng 4 đồng đội ở Rừng Láng (Hố Bò) bị bom Mỹ dội trúng hầm.

Con Ba Vân đi "mật thành" (biệt động thành). Mấy lần cả mấy má con tôi bị tụi ngụy xúc vô ấp chiến lược, con Vân về kiếm lòng vòng không được. Có bữa, tôi vừa mới thoát ra, hên sao lại gặp nó. Tôi nói, lần sau con cứ về trên quê, từ nay đến Tết không ra được, má cũng đạp rào má ra. Con Vân về báo cáo đơn vị hoàn cảnh tôi bị xúc vô ấp chiến lược, các em nhỏ bị bệnh tật. Đơn vị cho nó về phụ giúp tôi ít ngày. Nó mua quần áo, mua đồ chơi về cho mấy đứa em. Được nửa tháng, đơn vị cho người về rước nó. Ngày đó, đơn vị nó đóng ở Bến Súc (Củ Chi). Nó về đơn vị được ít ngày thì có tin địch bố càn ở trên đó. Và không bao giờ con tôi trở về nữa…

*Khi đi vô rừng, nó lấy cái bao bùm bụp làm cái mền mang đi.

Quãng cuối năm 1965, má Phan Thi Liền lặn lội từ ngoài quê Mỹ An, Phú Mỹ, Bình Định vào xã Hưng Lộc (huyệnThống Nhất, Đồng Nai) tìm người con trai duy nhất. Ở ngoài Bình Định, những năm đó, giặc khủng bố, o ép đủ bề. Ở Biên Hòa, Long Khánh cũng không kém phần ác liệt, nhưng cứ nghĩ xuôi về Nam chắc dễ thở hơn. Thế là anh Liên, con trai độc nhất của má xin phép mẹ ra đi (anh Liên mồ côi cha từ năm lên bảy tuổi). Anh Liên đi chưa được bao lâu, nhớ con không chịu đuợc, má Liền lại lặn lội vào Nam tìm con. Má thu xếp nhà cửa, bán con heo được 600 đồng giắt lưng ra đi. Vào Hưng Lộc, má ở đậu một nhà người quen và nhờ người đi tìm anh Liên lúc đó đang đi làm thuê ở Suối Cát (Sông Bé). Má quyết định ở lại Hưng Lộc, ngày ngày đi làm cỏ, làm rẫy thuê kiếm sống. Nhưng anh Liên cũng chỉ về ở với má ăn được cái Tết năm Ngọ (1966). Qua năm, anh xin phép má vô rừng gia nhập lực lượng giải phóng.

Má kể: Khi đi, nó xin tiền may quần áo mới, sắm tăng võng, ra dô, đồng hồ tự động như anh em. Tôi nói, bây giờ má không có tiền. Nó lấy cái bao bùm bụp (bao bố) làm cái mền mang đi. Tôi kiếm được ba ngàn, liền nhờ một đứa cũng có thằng anh đi vô rừng lên chợ Biên Hòa mua dùm cái đồng hồ tự động cho con tôi. Thằng Liên ra đi, thỉnh thoảng có tạt về. Tôi bới đồ tiếp tế cho nó hoài. Chuyện vợ con của nó tôi cũng nghĩ tới. Nó nói chờ hoà bình rồi mới tính. Một bữa, ông Tư Việt nói với tôi: Bây giờ cái thằng mình nó muốn vợ, bà tính sao? Tôi hỏi ai, ổng nói là con Xuân làm ở trong nhà ổng. Tôi về hỏi nó: “Tao nghe mày bệnh, con Xuân nó nấu cơm, cháo, giặt giũ quần áo cho mày, ngó bộ chúng mày thương nhau phải không?”. Nó gật. Tôi hỏi: “Con nhỏ đó con nhà ai, còn cha, còn mẹ không?”. Nó nói, cô ấy có một mình, không còn cha mẹ. Tôi nói: “Thế là không được rồi con ơi! Bây giờ mày lấy, vài bữa có bầu nó về ở nhà ai?”. Thế rồi nó thôi không nhắc tới chuyện ấy nữa…

Chị Xuân, người dẫn đường đưa tôi tới nhà má Liền, nói vui: Tiếc nhỉ! Nếu không, bây giờ bà đã có cháu lớn rồi, mình cùng nuôi cháu.

Chị Xuân quay qua giải thích với tôi: “Không phải bà ngăn trở gì con trai, chê cô Xuân nghèo, không cha, không mẹ đâu. Mà những năm đó, giặc khủng bố rất gắt gao, nhà nào có con đi cách mạng là chúng làm khó dễ, hạch sách, o ép đủ bề. Nếu cô Xuân còn cha, còn mẹ, khi mang bầu, có thể về ở với cha mẹ đẻ, chứ không thể về ở với mẹ chồng vì giặc sẽ khủng bố tra khảo, khó bề nuôi được con”.

Má Liền nói: “Đúng đấy, sợ nó đến bắt bớ, hành hạ con nhỏ chứ đâu chê gì nó. Mình cũng nghèo có hơn gì ai!”.

Anh Phan Văn Liên sinh năm 1944, tham gia cách mạng năm 1966, được phân công làm công tác phát động quần chúng, cơ quan đóng tại xã Hưng Lộc. Sáng ngày 6-11-1972, anh cùng đồng chí Ba Tô - xã đội trưởng và một đồng chí khác nữa đi công tác. Anh Liên đi đầu, giữa đường, ba người bị giặc phục kích. Đồng chí Ba Tô bị thương. Anh Liên bị thương nặng, chạy được qua hai bụi chuối rồi hy sinh. Bữa ấy cũng là bữa anh Liên hẹn gặp má. Má kể: Nó nhắn bà Quản Châu nói má con mang đồ cho con ăn tết. Tôi sắm đồ mang đến chỗ hẹn, xuống phụ gặt lúa với người ta chờ trưa nó ra. Mới đầu giờ sáng, nghe súng nổ đùng đoàng. Tôi nói với bà chủ rẫy lúa, bác ơi, nó kích (phục kích) rồi. Tự nhiên ruột gan cứ nóng cồn cào như lửa đốt. Rồi trưa hôm đó chờ hoài không thấy con ra. Về nhà, tôi thấy người ta xầm xì: Bị kích về hai nguời, còn một nguời không thấy ra. Tới chừng một tháng sau, các ông ấy móc tôi vô trong Bàu Lùm cho tôi hay là thằng Liên đã bị bắn chết.


*Không đi thì thôi, con đi là phải đi đến cùng!

Má Nguyễn Thị Mao (xã Đông Hòa, huyện Trảng Bom) được Nhà nước trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng vì có ba người con tham gia cách mạng, cả ba đều hy sinh, trong đó 2 người được công nhận liệt sĩ.

Anh con trai đầu Phạm Văn Linh sinh năm 1945, thoát ly tham gia cách mạng năm 1962, ở bộ đội địa phương Đoàn 64, quận Dầu Tiếng (Tây Ninh). Anh tham gia đánh trận Suối Dưa bị sức ép đạn pháo, xin về dưỡng bệnh tại nhà. Trên đường từ nhà trở lại đơn vị, anh bị pháo địch bắn chết, năm đó anh mới 21 tuổi.

Người con trai thứ hai: anh Phạm Văn Nên sinh năm 1947, tham gia cách mạng năm 1964. Anh được tổ chức cho đi học y tá, về làm y tá xã Thanh An (Bến Cát, Sông Bé). Ngày 10-11-1968, tại ấp 5 xã Thanh An, Bến Cát (Sông Bé) trong khi đi làm nhiệm vụ lượm trái lép về làm vũ khí đánh địch, chẳng may trái bị nổ, anh hy sinh.

Người con gái út, chị Phạm Thị Mý (tức Hà) sinh năm 1949, tham gia cách mạng tháng 9 - 1967, là cán bộ y tế của nông hội phân khu I. Chị hy sinh ngày 2-9-1973, tại xã Đơn Thuận, huyện Trảng Bàng, Tây Ninh, trên đường đi công tác bị vướng trái gài của địch.

Má kể: Thằng Ba (anh Nên) và con Tư (chị Hà) rất sáng dạ. Học y tá, hai đứa đều đỗ đầu của lớp. Thằng Ba hiền lắm, về đến nhà là tụi con nít vây lấy, đứa "cậu Ba", đứa "chú Ba", "anh Ba". Con Tư người đậm trắng, tóc dài. Nó hay mặc cái áo màu xanh dương và màu đen. Mười tám tuổi, nó hổng chịu lấy chồng. Nó về nói với tôi: "Má! Con xin đi tòng quân!". Tôi nói: Cái chuyện này, má không ép con. Nhưng con phải xác định đi làm cách mạng là phải chịu đựng gian khổ, bom đạn, đói rét, thiếu thốn chứ không như ở trong gia đình. Con nghĩ cho kỹ, chịu đựng được thì đi. Nó nói: "Con quyết rồi má ạ!". Thế rồi nó đi. Sau này về nó kể với tôi, có lần đơn vị bị vây phải ăn đọt mì, đọt chùm bao cả tuần lễ. Đận ấy gay go lắm, kẹt trận càn Tam giác sắt của giặc, cánh của Tư Đạt mấy chục người chết hết, lớp bị bom pháo, lớp bị xe tăng chúng ủi sập hầm, còn một mình Tư Đạt phải tung hầm lên chiến đấu, kiệt sức, đói lả, té lên, té xuống, khi gặp được du kích, đổ từng muỗng nước cháo mới được cứu sống.

Sau ngày hai thằng anh hy sinh, tôi bảo con Tư: Hai anh con không còn, ba má cô đơn quá. Hay là con xin về ở với ba má? Con Tư nói: "Con không đi thì thôi, con đi là phải đi đến cùng. Má về nói với ba dùm con!". Tôi thấy mình cũng không thể làm khác được. Buồn đau mà phải dằn lòng để con ra đi cho trọn nghĩa với Tổ quốc. Lần tôi tới thăm con Tư ở Bùng Tranh, nó khoe sắp được đi học y sĩ. Ai ngờ, đấy là lần cuối cùng gặp nó.

Đ.C.V