KỶ NIỆM 43 NĂM THÀNH LẬP HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT ĐỒNG NAI (22/12/1979 - 22/12/2022) - CHÀO MỪNG NHỮNG NGÀY LỄ LỚN NĂM 2022 - Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh!
Tính ước lệ trong nghệ thuật tạo hình


Cho đến nay chưa có một định nghĩa hay khái niệm nào cụ thể về tính ước lệ (hay ước lệ) tùy từng thể loại nghệ thuật mà có những quy định về hình thức cũng như biểu hiện riêng. Ước lệ ra đời từ đặc tính của từng dân tộc, từng loại hình và thể loại nghệ thuật. Mỗi thời đại lại có những chuẩn mực đặt ra đặc tính ước lệ riêng, đồng thời ước lệ sẽ biến đổi theo thời gian, mang khái niệm thẩm mỹ.

 Chỉ với từ ước lệ nhưng trong mỗi lĩnh vực nghệ thuật lại có những cách gọi khác nhau như: Ước lệ - tính ước lệ - hay nghệ thuật ước lệ. Nhưng dù gọi theo cách nào thì vẫn bao hàm một ý nghĩa giống nhau. Nói về hai chữ ước lệ: “Ước là quy ước, định ước… đặt ra để mọi người làm theo, Lệ là luật lệ không thành văn, đã thành tập quán, thói quen… được mọi người thừa nhận. Vậy nên ước lệ có thể hiểu là: những quy ước được mọi người thừa nhận và chấp hành”.

Theo nhà văn Nga Iu.M.Lotman và B.A.Uspenski do Lã Nguyên dịch thì ước lệ trong văn học được biểu hiện: Trong nghệ thuật, ước lệ là sự hiện thực hoá trong sáng tạo thẩm mỹ khả năng biểu đạt cùng một nội dung của nhiều hệ thống ký hiệu bằng những phương tiện cấu trúc khác nhau”. Với nghệ thuật diễn xuất kịch hát truyền thống và kịch nói Việt Nam tác giả Đỗ Hương viết: “Ước lệ sân khấu là một cách giải quyết mối mâu thuẫn của cái hữu hạn vật chất của sàn diễn và cái vô hạn của cuộc đời mà sân khấu phải thể hiện”. Với nghệ thuật sân khấu nói chung hay từng loại hình nghệ thuật nói riêng như: chèo, tuồng, điện ảnh… thì nghệ thuật ước lệ được biểu hiện qua không gian, thời gian, màu sắc, đường nét và cách diễn tả nội tâm của nhân vật. Đường nét di động trên sân khấu luôn gắn liền với ý nghĩa bên trong của hình tượng. Không gian của sân khấu tuồng, chèo cổ là mảnh chiếu trải trước sân đình, trang trí là cả khung cảnh hội hè: cây nêu, cờ hội, những tấm cửa đình sơn son thếp vàng… Ngay trong một đoạn diễn, hành động của nhân vật diễn ra khi ở trong nhà, khi ở ngoài đường, khi trên bến, khi dưới thuyền, khi là đất bằng, lúc núi non hiểm trở. Để giải quyết sự vận động chớp nhoáng ấy của không gian, chỉ có sân khấu ước lệ mới làm được. Không gian ước lệ gắn liền với xử lý thời gian ước lệ, sự ước lệ về không gian và thời gian trên sân khấu tả thật thường gắn liền với sự thay đổi về trang trí, hóa trang… và diễn xuất của diễn viên. Cũng như chèo, với nghệ thuật tuồng tính ước lệ là hệ thống động tác, biểu cảm nội tâm con người nhân vật.

 

tiếng vọng-levan09102022.png
Tiếng vọng (2016) khắc gỗ đen trắng của họa sĩ trẻ Lê Vân

 

Trong mỹ thuật, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Tính ước lệ trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam là chú trọng lột tả giá trị nội dung hơn là hình thức của tác phẩm”. Đề cao ý đồ trong tư duy tạo hình và xây dựng hình tượng nhân vật. Trên tinh thần đó, nghệ thuật tạo hình Việt Nam thoát ra yếu tố tả thực, xây dựng diện hình, mảng hình dẹt, bỏ qua vờn khối. Cách tô màu theo kiểu này thường được gọi là “đơn tuyến bình đồ” là: “Phương pháp tô màu phẳng vào trong các nét viền đậm đà đã được vẽ trước, hoặc vẽ các mảng màu phẳng trước rồi dùng nét đậm viền các hình thể trong tranh lại” .Với cách tô màu phẳng trong mảng hình đã tạo sự chắc khỏe trong toàn bộ bức tranh. 

Vai trò của ước lệ trong tạo hình cũng được đề cao và khai thác. Chính nhờ thủ pháp đó, người nghệ nhân khi làm tranh, đã bỏ qua các yếu tố đúng sai, đẹp xấu về mặt hình thức, chú trọng biểu cảm về mặt nội dung, sao cho tác phẩm mang được tiếng nói riêng, tình cảm của người sáng tác. Thủ pháp phá bỏ tính chuẩn mực quy ước về phối cảnh không gian theo một trật tự xa gần được các nghệ nhân khai thác sử dụng trong tranh một cách triệt để. Không gian trong tranh thường là không gian hai chiều, trong không gian đó, chiều sâu của sự vật không được lưu ý tới, hay nói đúng hơn là không được biểu đạt một cách chính xác. Các vật thể ở xa thường được vẽ phía trên các vật thể ở gần. Nếu trong luật xa gần: gần to, xa nhỏ, gần đậm xa mờ thì trong không gian ước lệ kích cỡ của chúng vẫn tương đương nhau hoặc đôi khi tỷ lệ lớn, nhỏ phụ thuộc vào địa vị của nhân vật trong tranh thay vì tỷ lệ theo vị trí trong tranh. Chính vì lẽ đó người nghệ nhân hay họa sĩ chỉ được phép vận dụng các nét rạch ròi, sắc cạnh trên các mặt phẳng, điều này đòi hỏi tính chính xác rất cao.

Tính ước lệ trong nghệ thuật tạo hình còn thể hiện ở tư duy mô hình hóa. Các nghệ nhân đã biết quy các hình tượng nhân vật trong tranh vào các dạng hình học cơ bản như: hình tam giác, hình thang, hình tròn, ví dụ như trong các tác phẩm Đánh vật, Hứng dừa, Ngũ hổ… Trên cơ sở đó, kết hợp các thủ pháp nhấn mạnh và lược bỏ những chi tiết không cần thiết tập trung chú trọng vào những nhân vật, đối tượng chính, quan tâm những nhân vật trung tâm để xử lý diện hình, mảng hình hay biểu cảm nội tâm nhân vật… đó cũng là thủ pháp đồng hiện trong không gian hai chiều. Sự tài tình ở đây là nghệ nhân đã khái quát trật tự không gian, thời gian, công việc diễn ra trong nhiều tình tiết khác nhau trên một mặt tranh mà vẫn khiến cho người xem thấy được sự hợp lý.

Như vậy tính ước lệ trong nghệ thuật là phương pháp mô tả đặc trưng ngôn ngữ, tồn tại, bất biến trong từng loại hình, thể loại nghệ thuật, được tạo dựng theo quy luật giữa hiện thực và ước lệ, đồng thời phải chọn lọc được những biểu hiện, những hình thức chính xác nhất, có tín hiệu thông tin cao nhất. Với ước lệ trong nghệ thuật tạo hình: từ những chi tiết thực, người nghệ sĩ đơn giản, lược bỏ những chi tiết, mảng hình không cần thiết để sáng tạo nên những tác phẩm mang tính cô đọng, thông qua sự biểu hiện của nét, mảng, màu sắc và không gian.

 

Lê Vân (tổng hợp)

                                                                 Giảng viên trường Đại học Đồng Nai