Từ Thất phủ cổ miếu
Thất phủ cổ miếu hay còn gọi là Chùa Ông Cù lao phố - cơ sở tín ngưỡng đầu tiên của người Hoa trên vùng đất Nam Bộ. Hơn 300 năm qua, Chùa Ông đã trở thành nơi lưu giữ và bảo tồn 2 nền văn hoá Việt – Hoa; là điểm đến tâm linh của nhiều người dân ở Biên Hoà - Đồng Nai và Đông Nam Bộ.
Các dữ liệu lịch sử đều cho biết, người Hoa đã có quan hệ, giao thương với vùng đất Nam Bộ từ xa xưa. Khi nhà Thanh lên nắm quyền thống trị Trung Quốc, thì phong trào di dân đến xứ Đàng Trong mới thực sự đông đảo. Trong khoảng thời gian từ 1643 đến năm 1683, khi triều Mãn Thanh đã đánh bại nhóm phản Thanh, phục Minh cuối cùng ở đảo Đài Loan. Những công dân trung thành với nhà Minh đã tìm đến định cư ở các quốc gia ở phía Nam đông đúc.
Chuyện xưa kể rằng: Vào năm 1679, Trần Thượng Xuyên tự là Thắng Tài, người Quảng Đông làm quan với nhà Minh tới chức Tổng binh. Khi nhà Minh mất, vì nghĩa lớn, ông đã không chịu thuần phục nhà Thanh, mùa xuân năm Kỷ Mùi, Thái Tông hoàng đế thứ 31 (1679) cùng với Tổng binh Long môn Dương Ngạn Địch, Phó tướng Huỳnh Tấn, Trần Bình An đã đem quân sĩ và gia quyến hơn 3000 người, và 50 chiến thuyền vào đậu ở cửa biển từ Tư Hiền đến Đà Nẵng tâu bày triều đình nhà Nguyễn, khấu đầu nguyện xin làm bầy tôi. Triều đình nhà Nguyễn thấy họ là người khác tục lạ lời, khó mà cư xử, nhưng thấy họ lâm vào thế khốn cùng nên không nỡ cự tuyệt. Song vùng Đông Phố ở Chân Lạp đất tốt ngàn dặm mà triều đình chưa đến nơi kinh lý, nên đã cho phép họ đến vùng đất này khai phá và cho họ ở luôn. Như vậy làm một việc mà được ba bốn điều lợi. Chúa Nguyễn thuận theo nên vỗ về khen ngợi, phong quan chức cho rồi sai họ vào ở Đông Phố. Tướng Trần Thượng Xuyên cùng Ngạn Địch tới cửa khuyết tạ ơn rồi lên đường.
Kể từ thời điểm ấy (năm 1679), sau khi được chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) chấp thuận, tướng quân Trần Thượng Xuyên đã dẫn theo 3.000 quân thân tín, cùng với gia quyến tiến vào cửa biển Cần Giờ lên đóng tại Bàn Lân (nay thuộc Biên Hoà), Ngạn Địch, Huỳnh Tấn vào cửa biển Soài Rạp tới đóng quân dân tại Định Tường (nay là Mỹ Tho) để lập nghiệp.
Trần Thượng Xuyên đã kết hợp với cộng đồng người Việt đến vùng Nông nại đại phố, khai khẩn, mở mang đất đai và tạo lập Nông nại đại phố - một thương cảng đô hội, phồn thịnh bậc nhất phương Nam lúc bấy giờ.
Trịnh Hoài Đức đã ghi vào trong sử sách: người Hoa ở Biên Hoà trong quá trình khẩn hoang lập nghiệp đã có sự đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của vùng đất Biên Hoà - Đồng Nai. Trước hết, như chúng ta đã biết, đa phần người Hoa đều chuộng nghề thương mãi. Từ buổi đầu, họ đã kiến thiết phố xá gọi là Nông nại đại phố với mái ngói, tường vôi, lầu cao quán rộng dọc theo bờ sông liền lạc đến 5 dặm để giao thương với người Trung Hoa, người Nhật Bản, Tây Dương, Đồ Bàn… Sau đó, do tình hình nội chiến tại vương triều Chân Lạp đã làm cho Nông nại đại phố bị tàn phá, để cho Bến Nghé và phố thị Sài Gòn (tức Chợ Lớn sau này) vượt lên và phát triển mạnh nên đã giành lấy vị trí trước đó của Nông nại đại phố. Các thế hệ người Hoa sau này, tập hợp vào các bang tương trợ nhau trong công việc làm ăn và sinh sống đã tạo dựng nên cơ nghiệp theo các ngành nghề khác nhau.
Sau 6 năm an cư trên đất Việt, tướng quân Trần Thượng Xuyên đã cùng cộng đồng người Hoa tạo dựng nên cơ sở tín ngưỡng Thất phủ cổ miếu.
Được biết, Thất phủ cổ miếu này do bảy phủ người Hoa đóng góp để tạo dựng, bao gồm: Phúc Châu, Chương Châu, Tuyền Châu, Quảng Châu, Triều Châu, Quỳnh Châu và Ninh Ba.
Hơn 300 năm hiện hữu, Thất phủ cổ miếu trở thành địa điểm giao lưu của hai nền văn hóa Việt – Hoa trên vùng đất ngày xưa, trung tâm thương cảng Cù lao phố, nay thuộc xã Hiệp Hòa, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Thất phủ cổ miếu là cơ sở văn hoá đầu tiên của cộng đồng người Hoa ở Đồng Nai nói riêng và cả khu vực Nam bộ nói chung. Ngôi chùa này là nhân chứng đánh dấu cột mốc lịch sử về thời kỳ khẩn hoang, lập nghiệp và cùng bảo vệ, phát triển vùng đất phương Nam của cộng đồng người Hoa.
Chùa có quy mô kiến trúc "tứ hợp viện" theo truyền thống chùa chiền Trung Hoa, với các thành tố chính: tiền điện, phương đình và chính điện. Kiến trúc và sự bài trí ở đây thể hiện được trình độ kĩ thuật điêu luyện, khiếu thẩm mỹ tinh tế của nghệ nhân dân gian của người Việt và người Hoa.
Đặc biệt, các đề tài trang trí như rồng chầu mặt trời, tứ linh, hoa điểu, cửu long, bát tiên, bách suốt, múa hát cung đình, rồng – mây, phù dung – phụng, dây hoa lá, sóng nước… được điêu khắc rất tinh vi, sắc sảo, toát lên vẻ đẹp điển hình của nghệ thuật dân tộc Trung Hoa.
Ngoài ra, đây cũng là nơi giao thoa văn hoá đất Việt, khi lưu giữ những thành tựu nghệ thuật của các nghệ nhân thuộc làng nghề chạm khắc đá Bửu Long ngày xưa. Trong đó, những di vật bằng đá granit vẫn trường tồn đến tận ngày nay.
Phía trước sân chùa có miếu thờ năm bà Ngũ Hành và phía sau thờ Quan Thế âm bồ tát cùng các phối linh tự Ngũ điện Diêm La Thiên Tử Bao (Bao Công), Thái Tuế Tinh Quân, Huyền Đàn Triệu Nguyên Soái, Thần Tài Âm Phủ/ Bạch Vô Thường…
Theo Trịnh Hoài Đức ghi trong Gia Định thành thông chí cho biết: Tháng 4 năm Giáp Tý (1684) bắt đầu xây dựng miếu Quan Đế ở Cù lao phố tại phía Đông ngã ba đường, mặt trông ra sông Phước Giang, điện vũ nguy nga, tượng thờ đắp cao hơn một trượng, phía sau là điện thờ Quan Thế âm bồ tát, phía ngoài có tường gạch cao bao quanh, bốn góc có bốn con lân đá ngồi xổm. Hai bên Đông Tây đường lớn là hai hội quán Phúc Châu và Quảng Đông làm nơi giao tiếp với lái buôn nước ngoài.
Chùa nằm ở một địa thế rất đẹp, mặt tiền quay về hướng Tây - Nam nhìn ra sông Đồng Nai, trước cửa tam quan là một cây si cổ thụ lớn, quanh năm toả bóng rợp cả vùng sân.
Di tích này từ Quan Đế miếu lúc khởi tạo đến Thất phủ cổ miếu ngày nay, không chỉ có mỗi sự thay đổi tên gọi mà còn được tái thiết trùng tu nhiều lần do công sức tiền bạc và tài trí của nhiều thế hệ đóng góp. Theo đó, ở mỗi thời điểm đều để lại những dấu ấn riêng. Chính vì vậy, mọi thứ cần thiết phải được truy cứu một cách tường tận để có được những hiểu biết chính xác.
Kể từ khi tạo dựng đến nay, Thất phủ cổ miếu được trùng kiến và trùng tu nhiều lần vào các năm 1743, 1817, 1894... Năm 2009-2010 là đợt trùng tu lớn nhất của Thất phủ cổ miếu. Tuy nhiên, vẫn tuân thủ nguyên tắc phục chế theo nguyên mẫu, có tôn tạo nhưng không làm thay đổi kiến trúc vốn có của chùa. Chính vì vậy, dù hơn 300 năm tuổi và trải qua nhiều biến cố cùng thời gian, ngôi chùa này vẫn giữ được những nét đặc sắc riêng của cộng đồng người Hoa.
Đến Chùa Ông Cù lao Phố
Những dịp tết đến xuân về, những lễ hội và những ngày đầu tháng, ngày Rằm, Chùa Ông được coi như nơi đến không thể thiếu của những người tin vào tín ngưỡng và tâm linh, cũng tại nơi này tôi được nghe rất nhiều thiện nam, tín nữ đã tâm sự rằng: Đến Chùa Ông thành tâm cầu nguyện chắc chắn “cầu gì được nấy" bởi nơi đây có Quan Thánh đế quân là đối tượng được thờ phụng chính ở Thất phủ cổ miếu. Quan Thánh đế quân là thánh hiệu của Quan Vũ, tự Vân Trường, một nhân vật thời Tam Quốc. Ông sinh năm 160, bị kẻ thù giết chết năm 219, thọ 60 tuổi.
Quan Công là hình tượng biểu trưng cho trung nghĩa được in sâu trong tâm thức dân gian, mặt khác đó là biểu tượng cho các phẩm chất Trung, Hiếu, Tiết, Nghĩa mà nhà nước phong kiến quân chủ mong muốn giáo hoá thần dân. Quan Công được cả Đạo giáo và Phật giáo thờ phụng, các triều đại sau này đã tôn Quan Công thành đối tượng sùng bái và phong cho ông nhiều mỹ hiệu cao quý. Từ ấy, dân gian tin tưởng Quan Đế có đầy đủ “Tư mệnh lục", “Hậu khoa cử", “Trừ tai trị bệnh", “Tuần sát minh tư", “Chiêu tài tiến bảo", “Phò hộ thương mại" với đầy đủ vạn năng uy lực. Cho nên mọi ngành mọi nghề, nam nữ, già trẻ, trai gái trong dân gian xác tín Quan Thánh đế quân là “Vạn năng thần".
Kể từ ngày tạo dựng cho đến nay (1684- 2023), Chùa ông Cù lao phố đã có thời gian 339 năm tồn tại, luôn rộng cửa nghênh đón thiện nam tín nữ tìm đến với chùa để khấn nguyện, giãi bày những tâm tư của mình với cõi tâm linh.
Suốt 339 năm từ ngày hình thành và phát triển, chỉ có một dịp tết âm lịch duy nhất phải đóng cửa 10 ngày (tết Nhâm Dần -2022) do quy định phòng chống dịch bệnh Covid-19 theo chỉ thị ban hành của nhà nước.
Lễ hội Chùa Ông hàng năm được tổ chức từ ngày mùng 10 đến 13 tháng Giêng âm lịch. Nơi đây hàng năm vẫn diễn ra những lễ hội lớn, và những hoạt động văn hoá điển hình để tri ân những công thần khai phá vùng đất Biên Hòa cũng như gìn giữ, thắt chặt mối quan hệ giữa cộng đồng Việt – Hoa, vì thế thu hút rất đông khách từ trong và ngoài tỉnh tới chiêm bái, dâng hương, dâng lễ.
Nghi thức quan trọng nhất trong lễ hội là lễ Nghinh thần, rước các Đức Ông tuần du theo đường thủy và đường bộ (thuộc TP. Biên Hòa) để tôn vinh, tri ân công lao mở cõi, cũng như gợi nhớ, nhắc nhở người dân về lịch sử vùng đất của mình.
Ngoài ra, lễ hội còn có hoạt động văn hóa, tín ngưỡng đặc sắc khác như biểu diễn võ thuật, múa lân, viết chữ thư pháp, thư họa truyền thống, biểu diễn các vở tuồng cổ, thả đèn hoa đăng… thu hút đông đảo nhân dân, du khách thập phương và các hội quán người Hoa.
Có thể nói, tôi là người may mắn được ông Thái Hữu Nghĩa và Ban trị sự Chùa Ông Cù lao phố dành cho một vị trí để hành nghề viết thư pháp Việt trong vai ông đồ tại ngôi chùa này hơn mười năm nay vào mỗi dịp tết đến xuân về.
Được ngồi để cho chữ bá tánh trước sân của ngôi chùa khang trang và đẹp đẽ này không chỉ là niềm vui của một nghệ nhân viết thư pháp Việt. Hơn thế nữa, tại đây hơn mười năm nay tôi thấy mình như được hoà vào sự giao lưu các hoạt động văn hoá của cộng đồng người Việt và người Hoa trên đất Đồng Nai.
Mỗi dịp tết đến xuân về, người người nhà nhà thường hay đi xin chữ đầu năm như một nét văn hoá đẹp của người dân Việt Nam. Cho chữ đầu năm là hoạt động mang nhiều ý nghĩa về mặt văn hóa dân tộc. Giống như câu nói “Nét chữ, nết người", con chữ không chỉ dùng để diễn đạt tư tưởng, mà còn giúp bày tỏ tấm lòng, bộc lộ tính cách. Phong tục cho chữ thể hiện truyền thống tôn sư trọng đạo, đề cao trí thức, thể hiện mong ước về may mắn vui vẻ. Chỉ đơn giản vậy thôi, đến hẹn lại lên, nhưng hơn ai hết tôi biết rằng sau cái ngày khai trương gặp gỡ cho chữ bá tánh, những người trong vai ông đồ như tôi sẽ luôn bận rộn với những khách hàng thân yêu cho đến hết ngày Rằm tháng Giêng.
Tất cả các hoạt động này đều có sự đan xen văn hóa, tín ngưỡng giữa hai dân tộc Việt - Hoa, tạo nên nét độc đáo, sinh động, hấp dẫn, và những nghĩa cử quyên góp tết cho trẻ em nghèo, học bổng cho trẻ em nghèo hiếu học…
Với bề dày lịch sử và những giá trị kiến trúc nghệ thuật của mình, Thất phủ cổ miếu được Bộ Văn hoá - Thông tin cấp bằng công nhận Di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia năm 2001.
H.Đ.N
(Nguồn: VNĐN số 65 – tháng 7, năm 2023)