Tày và Nùng là hai dân tộc
nói ngôn ngữ thuộc nhóm Tày- Thái ở Việt Nam. Tày và Nùng thuộc ngành Choang
chung, sinh sống chủ yếu ở vùng núi Việt Bắc, vì vậy có thể gọi người Tày, Nùng
là các tộc người thung lũng (phân biệt với các tộc người sinh sống ở vùng rẻo
giữa và rẻo cao).
Tày là tên gọi có nguồn gốc
lâu đời thuộc nhóm Thái- Choang ở miền Nam Trung Quốc và Đông Nam Á. Tày có
nghĩa là người. Người Tày ở Việt Nam còn có tên gọi khác là Thổ (tuy nhiên tộc danh “Thổ” còn dùng để gọi đối với
một số dân tộc khác). Còn tộc danh Nùng có thể xuất phát từ tên dòng họ Nùng, một
dòng họ có thế lực ở vùng Quảng Tây – Trung Quốc thời Đường. Người Nùng gồm nhiều
nhóm địa phương được gọi tên dựa trên đặc điểm trang phục và theo địa danh.
Nhóm gọi theo đặc điểm
trang phục gồm có: Nùng khen Lài (mặc áo có các khoang vải màu), Nùng Hu Lài (đội
khăn chàm đốm trắng), Nùng Slử Tỉn (mặc áo ngắn chấm mông)..
Nhóm gọi theo địa danh:
Nùng An (châu An Kiết), Nùng Inh (châu Long Anh), Nùng Phàn Sình (châu Vạn
Thành), Nùng Cháo (Long Châu), Nùng Quý Rịn (Quy Thuận), Nùng Lòi (châu Hạ
lôi)…
Người Nùng nằm trong khối
Nam Choang ở Trung Quốc, họ di cư tới Việt Nam vào những thời điểm khác nhau
nhưng sống tập trung xen cài với các tộc người bản địa, nên được các cư dân bản
địa gọi với các tên khác nhau.
Tộc danh Tày là tên gọi
chung của nhiều dân tộc cùng ngôn ngữ ở Đông Nam Á. Trong lịch sử xa xưa, một bộ
phận người Tày cổ đã hòa nhập vào với người Việt trở thành người Việt hiện đại.
Trong khi đó, bộ phận người Nùng sang Việt Nam từ sớm phần lớn đã bị Tày hóa.
Còn đại bộ phận người Nùng hiện nay đều mới di cư từ Trung Quốc sang Việt Nam
cách nay khoảng hơn hai trăm năm.

(Trang phục người Tày)
Tộc danh Nùng chỉ phổ biến ở
Việt Nam, còn ở Trung Quốc họ là bộ phận của dân tộc Choang (Cháng). Điều này
có liên quan biến cố lịch sử của họ. Sau cuộc khởi nghĩa của Nùng Trí Cao (một
thủ lĩnh của nhóm Choang- Tày) chống đối lại triều đình nhà Tống của Trung Quốc
bị thất bại, nhà Tống đã khủng bố gắt gao, khiến nhiều người theo Nùng Trí Cao
đều đổi họ Nùng thành Nông và chạy vào rừng lẩn trốn. Như vậy, thoạt đầu tộc
danh Nùng chỉ là tên gọi của dòng họ lớn sau này trở thành tên gọi dân tộc Nùng
ở nước ta(1). Tên gọi dòng họ Nùng (Nông) cũng đã có lâu đời ở Việt
Nam. Những người Tày ở Việt Bắc mang họ Nông được coi là những người khai phá đất
đai, xây dựng bản mường.
Gần đây, một số nhà nghiên
cứu nước ngoài có xu hướng coi các dân tộc Tày, Nùng chỉ là một tộc người. Sự
phân biệt Tày, Nùng ở Việt Nam và sự gần gũi giữa họ là tương đối, nhiều khi ảnh
hưởng của xã hội cũ còn đậm nét. Tuy nhiên, quá trình diễn ra trong các cư dân
này còn ở mức độ thấp(2). Các dân tộc Tày, Nùng đều là cư dân trồng
trọt, họ làm nông nghiệp: trồng lúa, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp, hái lượm
và săn bắt cá.
Ở Đồng Nai, người Tày và
người Nùng có dân số đông sau người Kinh và người Hoa. Họ tụ cư ở những vùng có
đồng ruộng hay đất rẫy để làm nông nghiệp. Địa bàn của người Tày và Nùng ở Đồng
Nai là các huyện Thống nhất, Tân Phú, Định Quán, Xuân Lộc và thành phố Long
Khánh. Một số ít người Nùng định cư ở một số phường thuộc thành phố Biên Hòa. Số
này gần như bị Hán hóa sống xen lẫn với một bộ phận người Hoa (một số được gọi
là Hoa Nùng).
Người Tày và Nùng ở Đồng
Nai có lịch sử di dân từ năm 1954 bắt đầu từ một bộ phận theo quân đội của
Voòng A sáng vào Sông Mao (Bắc Bình, Bình Thuận), sau đó vào Đồng Nai và một số
nơi khác. Sau năm 1975, tiếp tục có nhiều đợt người Tày và Nùng di dân đến Đồng
Nai để làm ăn kinh tế (đa số người Nùng di cư từ năm 1954, còn người Tày di cư
sau năm 1975).
Đời sống văn hóa vật chất của
người Tày và Nùng đặc trưng với lối ở nhà trệt kết cấu bằng gỗ, cây, lá, mái lợp
tôn. Nhà của người Tày và Nùng gần giống với nhà người Việt với kiểu nhà một
mái hoặc nhà ba gian lợp hai mái xuôi về phía trước và phía sau. Một bộ phận
người Tày, Nùng sống ở Biên Hòa, huyện Thống nhất và Định Quán thì lại cất nhà
theo kiểu dãy phố liền kề nhau có gác lửng để buôn bán giống kiểu nhà người
Hoa. Ngày nay, nhiều gia đình khá giả đã có điều kiện để xây nhà bằng vật liệu
kiên cố như: gạch ngói, xi măng, cốt thép, mái bê tông hoặc lợp tôn… Đa phần,
nhà ở người Tày và Nùng đơn giản với kiểu nhà trệt có một gian lớn bên ngoài để
làm nơi tiếp khách, giữa nhà có bàn thờ Tổ tiên. Vách tiền nhà có bàn thờ gọi
là Ông Bàn ngoài hay Ông gác cửa giữ nhà.

(Trang phục người Nùng)
Bàn thờ của người Tày, Nùng
bài trí ở giữa gian nhà với hai tầng cao (bên trong đặt các bát nhang tượng
trưng) phía trước dán giấy đỏ ghi chữ Hán; cũng có gia đình bài trí bàn thờ đơn
giản với bàn thờ hoặc khám gỗ nhỏ hình chữ nhật dán giấy màu đỏ ở bên ngoài,
bên trong đặt ba bát nhang thờ Tổ tiên ông bà cha mẹ. Có nhà đặt bát nhang thờ
bà Mụ ở bên cạnh ba bát nhang Tổ tiên ông bà. Bàn thờ bà Mụ chỉ có ở những gia
đình có đầy đủ vợ chồng, con cái; khi cha mẹ qua đời thì đưa bàn thờ đi luôn.
Có gia đình trang trí bàn thờ bằng một tấm vải đỏ có viết chữ Hán ghi tên những
vị tiên tổ của dòng họ. Trong nhà còn có bàn thờ Thổ thần, thần Tài đặt ở dưới
đất (dưới bàn thờ Tổ, gần cửa đi vào gian phòng bên trong). Bàn thờ Thổ thần
trước kia chỉ là tờ giấy đỏ ghi chữ Hán nay có gia đình đặt tượng ông Địa thần
Tài, thể hiện sự ảnh hưởng của văn hóa người Hoa và người Kinh.
Người Tày và Nùng ở Đồng
Nai hiện nay ăn mặc giống người Kinh. Thế nhưng vào những dịp lễ hội hay dịp đặc
biệt, người Tày và Nùng vẫn còn bảo lưu trang phục truyền thống với bộ áo chàm
khuy ngang của nam giới và bộ áo cánh cài khuy một bên của phụ nữ.
Người Tày mặc trang phục sắc
chàm đàm đen giản dị như: áo ngắn, áo dài, váy, quần, khăn đội đầu, thắt lưng,
các đồ trang sức bằng bạc… Phụ nữ Tày mặc trang phục kín toàn thân, chỉ hở
khuôn mặt và hai bàn tay, tạo cảm giác kín đáo. Y phục toàn một màu chàm sậm
hay tím hồng, hầu như không có hoa văn trên khăn, váy, áo. Màu sậm của y phục với
việc che kín toàn thân đã làm nổi bật đường nét cơ thể, tạo dáng thanh gọn, và
đặc biệt làm tôn nước da trắng của khuôn mặt, cổ, bàn tay của phụ nữ Tày. Thêm
vào đó, trên nền màu chàm sậm nổi lên những vòng cổ, vòng tay, xà tích bạc sáng
ónh ánh làm tăng thêm vẻ thâm trầm mà quyến rũ, duyên dáng của người phụ nữ
Tày.
Trang phục người Nùng thì lại
đa dạng hơn. Trang phục Nùng còn giúp ta phân biệt được các nhóm Nùng như: Nùng
An, Nùng Inh, Nùng Phàn Sình, Nùng Xuồng… Người Nùng An mặc áo chàm ngang mông,
tay dài, vạt hơi bầu, có khuy cài bên phải, đầu vấn tóc bên trong và đội khăn mỏ
quạ bên ngoài giống người Kinh bắc. Người Nùng Phàn Sình thì đội khăn chàm lốm
đốm hoa hồi nét trắng, mặc áo màu chàm xanh đen. Áo của người Nùng Xuồng thì nẹp
ngực được đắp thêm một băng vải khác với màu nền áo, thường là màu đen hay xanh
lam đậm. Áo phụ nữ Nùng Lòi thì nền áo có màu đen phớt nâu…
Huyện Thống Nhất, Đồng Nai
là địa bàn tập trung nhiều cộng đồng người Tày và Nùng; trong đó đáng kể là cộng
đồng người Nùng có nguồn gốc từ tỉnh Bắc Cạn di cư vào Đồng Nai sau năm 1975 tập
trung ở ấp 3, xã Lộ 25. Họ nhận là người Nùng È với đặc điểm khi nói thường đệm
cuối câu bằng từ “è” hoặc trả lời có đuôi là “è” (theo khảo sát của tác giả)
, tuy nhiên trang phục truyền thống của họ cho thấy đây là nhóm người
Nùng An hoặc Nùng Xuồng.
Người Tày và Nùng sinh sống
chủ yếu bằng nghề nông, làm ruộng, rẫy và chăn nuôi là chính. Loại cây canh tác
chủ yếu là lúa, bắp, đậu, cà phê, tiêu, điều, cây ăn trái… Ngoài trồng trọt, họ
còn chăn nuôi heo, trâu, bò, gà, vịt, chó, mèo… Công cụ sản xuất của họ là:
cày, bừa, cuốc, cào, liềm, lưỡi thép (giống lưỡi hái), dao phát, dần, nia,
sàng, thúng, rổ… phục vụ sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, họ còn sử dụng một số
ngư cụ để đánh bắt cá như: lưới, đó, giỏ đựng cá…
Sinh hoạt vật chất của người
Tày và Nùng hiện nay tương đối giống người Kinh. Tuy nhiên phong tục tập quán vẫn
được họ lưu giữ. Người Tày, Nùng ăn uống giống người Hoa hơn người Kinh. Buổi
sáng họ nấu cháo và hai bữa cơm chính. Họ ăn các món chiên xào nhiều hơn là các
món luộc. Vật dụng sinh hoạt trong gia đình đa số bằng gỗ, đồng. Ngày nay, đồ
dùng họ sử dụng tương tự như người Kinh. Một số hộ người Nùng quê Tĩnh Túc, Cao
Bằng còn lưu giữ và sử dụng loại nồi nhôm nấu ăn khá đặc biệt. Nồi do họ tự gò
lấy bằng loại nhôm máy bay khá dày. Nồi được gò tròn từ miệng đến đáy, hình
dáng trông giống quả bí đỏ, có lẽ ảnh hưởng của kiểu nồi gốm ngày xưa. Theo lý
giải của ông Hoàng Ngọc Trù (gia đình còn có 04 chiếc nồi tròn từ lớn đến nhỏ)
cho biết, đây là đặc trưng văn hóa vật chất của người Nùng sống ở vùng đồi núi
cao xưa kia. Nồi được gò tròn được nông dân đem theo làm rẫy trên đồi cao, khi
đem về có thể lăn từ đỉnh đồi, núi xuống chân núi không phải mang trực tiếp
theo trong mình. Kích thước của các nồi từ rất nhỏ đến rất lớn: đường kính lần
lượt khoảng 12cm, 18cm, 28cm và 35cm. Có gia đình còn bộ nồi rất lớn đường kính
khoảng từ 40-45cm.
Phụ nữ Tày, Nùng ở Đồng Nai
còn có tục địu con sau lưng trong khi làm việc hoặc ru cho trẻ ngủ. Rất nhiều
gia đình còn lưu giữ được những tấm vải địu trẻ con sau lưng. Tấm địu thường là
một tấm vải có hình tam giác màu xanh chàm, ở giữa hình tam giác có đắp một tấm
vải vuông dệt hoa văn thổ cẩm bằng sợi bông màu sắc sặc sỡ với những họa tiết
hình ô trám, hoa bốn cánh tròn và các kiểu hoa văn cánh nhọn xen kẽ… Hai cánh của
tam giác nối với hai đầu dây vải mỗi đầu dây dài từ 1m đến 1,5m để quấn nhiều
vòng quanh dưới ngực và ngang eo của người phụ nữ sao cho đứa trẻ nằm gọn trong
tấm vải tam giác ở sau lưng. Tục địu trẻ con sau lưng là phong tục tập quán
truyền thống của người Tày, Nùng hình thành thói quen cho trẻ con với việc ru
ngủ trên lưng phụ nữ. Nếu như trẻ em các dân tộc khác quen với việc được ru ngủ
đong đưa trên võng hoặc trên bụng mẹ, thì trẻ em Tày, Nùng vẫn còn thói quen được
ru ngủ đong đưa trong tấm địu trên lưng mẹ hoặc bà.
Thầy Mo và bà then là những
nhân vật có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của cộng đồng người Tày
và Nùng. Mỗi khi làm nhà, đám cưới, đám tang, chữa bệnh hay sinh nhật mừng thọ…
bà con người Tày, Nùng đều phải nhờ cậy đến ông mo, bà then mời xem giúp ngày
giờ tốt, hoặc làm lễ cúng cho họ… Cộng đồng người Tày và Nùng ở Đồng Nai còn
lưu giữ được đặc trưng văn hóa tinh thần với nghệ thuật hát “then” truyền thống.
Hát then là sản phẩm nghệ thuật của phụ nữ Tày, Nùng. Một số bà then còn có khả
năng hát và sử dụng thành thạo một số nhạc cụ như: đàn tính, chuông, lắc… sử dụng
đi kèm trong khi hát và múa then. Ngày 13/12/2019 nghệ thuật hát Then của người
Tày, Nùng, Thái đã được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể của nhân
loại góp phần bảo tồn và phát huy hơn nữa giá trị văn hóa các dân tộc ở Việt
Nam.
NGUYỆT MINH
(Nguồn: VNĐN số 52 – tháng 6 năm 2022)