Thứ 6 - 26/02/2016
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây
CHÀO MỪNG SỰ KIỆN THÀNH LẬP THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG
ĐÌNH LÀNG - BIỂU TƯỢNG TÂM LINH TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM



Đình làng là nơi thờ Thành hoàng theo phong tục tín ngưỡng dân gian Việt Nam trong xã hội cổ truyền. Đình làng còn là một công trình kiến trúc công cộng do tính chất phục vụ đa chức năng. Ngoài là nơi thờ Thành hoàng làng, đình làng còn là trung tâm hành chính, quản trị phục vụ cho mọi hoạt động thuộc về cộng đồng làng xã; Đình là nơi làm việc của Hội đồng kỳ mục thời phong kiến, là nơi hội họp của dân làng... Đây cũng là nơi diễn ra các lễ hội làng truyền thống, nơi sinh hoạt văn hóa, văn nghệ của làng. Nói chung, với ba chức năng cơ bản (tín ngưỡng, hành chính, văn hóa-văn nghệ), đình làng là nơi diễn ra mọi hoạt động của làng xã Việt Nam dưới thời phong kiến.

* Tổng thể kiến trúc đình làng

Tổng thể đình làng thường gồm có những hạng mục sau: Cổng, bình phong (đối với đình miền Trung và miền Nam), sân đình, chánh điện, tả vu hữu vu… Trước đình làng ở miền Bắc thường có cổng tam quan hoặc hai hàng trụ biểu khá cao, đây là hàng cột có hình dáng cột vuông, đầu cột nhọn giống búp sen hoặc ngòi bút...... Các trụ biểu thường được trang trí, đắp nổi các hoa văn, họa tiết, câu đối thể hiện thông tin của làng, sinh hoạt hàng ngày, những ước vọng, niềm tự hào của dân làng. Các trụ biểu thường có tiết diện hình vuông, tuy nhiên cũng có đình trụ biểu tiết diện hình tròn. Một số trường hợp có thanh ngang có chữ Hán và kết nối các trụ biểu (tứ trụ biến thể).


đình Tân Lân - BH.png
​Đình Tân Lân, thành phố Biên Hòa

Ngôi đình Trung Bộ và Nam Bộ, bố cục từ ngoài vào trong đại thể: Cổng đình có cột, trên lợp mái ngói, hoặc trên hai trụ có đặt cặp lân bằng sành tráng men. Bình phong nằm chính giữa phía trước sân đình. Mặt bình phong thường đắp nổi hoặc vẽ cảnh cọp vàng (hoàng hổ); hoặc cảnh “long mã chở phù đồ”, hoặc “long hổ hội” (cọp dưới đất ngước lên nhìn rồng đang bay ẩn trong mây nhìn xuống) để biểu thị âm dương hòa hợp.

* Bố cục kiến trúc đình làng

Phía trước đình làng thường có sân rộng, hồ nước cây xanh tạo cảnh quan. Kiến trúc đình làng có thể chỉ 5- 7 gian, hoặc có thể có tới 9 gian như ở đình làng Đình Bảng (Bắc Ninh). Đây cũng là đình làng có số gian nhiều nhất trong kiến trúc cổ Việt Nam. Đình làng thường phổ biến loại bốn mái, có khi cũng phát triển thêm loại tám mái (kiểu chồng diêm) do những ảnh hưởng của kiến trúc Trung Hoa về sau này (như mái đình Bình Thủy, TP. Cần Thơ; đình Vĩnh Phước và đình Định Yên, Đồng Tháp...). Mặt bằng đình có thể là kiểu chữ Nhất (kiểu này thường thấy ở các đình cổ thế kỷ XVI); hoặc quy mô, phức tạp hơn với những bố cục mặt bằng chữ Đinh (), chữ Nhị (), chữ Công (), chữ Môn ()... Đây là các dạng mặt bằng xuất hiện về sau, bổ sung cho sự phong phú của đình làng Việt Nam. 

Kiến trúc đình làng thường phát triển cả phía sau, phía trước và hai bên, với nhiều hạng mục: hậu cung, ống muỗng (ống muống), tiền tế, các dãy tả vu, hữu vu, tam quan, trụ biểu, hồ nước, thủy đình... Trong bố cục đó, không gian chủ yếu vẫn là tòa đại đình (đại bái), là nơi diễn ra các hoạt động hội họp, ăn khao, khao vọng, phạt vạ... của dân làng. Đại đình bao giờ cũng là tòa nhà lớn nhất trong quần thể, bề thế, trang trọng. Đình làng không chỉ là kiến trúc lớn nhất của làng mà còn là một kiến trúc thiêng liêng. Vì vậy, đất dựng đình là vô cùng quan trọng, phải chọn theo quan niệm “phong thủy” và hết sức cẩn thận. Theo quan niệm của nhân dân nếu chọn đất sai có thể ảnh hưởng xấu đến cả cộng đồng.


đình thần Định Yên.png
Cổng đình làng Định Yên, huyện Lấp Vò, Đồng Tháp

Không như ngôi đình làng ngoài ở Bắc bộ, ngôi đình Nam bộ thường là một quần thể kiến trúc gỗ, gồm nhiều ngôi nhà sát liền nhau theo kiểu sắp đọi và thường được xây dựng ở vị trí cao ráo, tiện việc đi lại, ít bị chi phối bởi thuật phong thủy. Ngày nay, đình thần Nam Bộ có lối kiến trúc khá đa dạng. Gian chánh điện thường là nhà ba gian hoặc nhiều nếp nhà tứ trụ (tức nhà vuông có 4 cột cái), cùng kiểu cùng cỡ, bố trí theo kiểu “trùng thềm điệp ốc”. Mái đình thường lợp ngói âm dương hoặc ngói ống kiểu Trung Quốc, ngói kiểu vảy cá, trên nóc thường gắn những tượng gốm sành men màu như: lưỡng long tranh châu, phụng hàm thư, cá hóa long, bát tiên, ông Nhật, bà Nguyệt… nhằm tượng trưng cho âm dương hòa hợp, sung túc...

Bên trong mỗi đình có cách phân chia hơi khác nhau, nhưng thường là có ba gian chính: Võ ca (gian trước), dành làm nơi xây chầu và hát tuồng vào mỗi dịp lễ kỳ yên. Võ qui còn gọi võ cua hay nhà chầu (gian giữa), có nơi đặt bàn thờ Hội đồng ngoại hoặc cũng có nơi dùng làm chỗ cho các chức sắc chầu lễ, cầm chầu (mỗi khi hát Bội) hoặc hội họp. Chánh điện hay Chính tẩm (gian cuối), là gian được coi là mỹ thuật nhất ở đình, gồm hoành phi, câu đối, khám thờ, các bao lam và các mảng phù điêu... Tất cả đều được chạm khắc, sơn son thiếp vàng đẹp đẽ, tinh tế.

* Mặt bằng kiến trúc đình

Đối với đình Bắc bộ, với những ngôi đình có niên đại sớm, thường có một tòa nhà lớn nằm ngang (tòa đại đình) gọi là kiểu chữ “nhất” ( ), sau này người ta làm thêm phần chuôi vồ đằng sau gọi là hậu cung – nơi đặt bài vị, ngai thờ Thành hoàng, gọi là đình kiểu chữ “đinh” (  ). Càng về sau, người ta càng thêm vào nhiều đơn nguyên kiến trúc nữa như: tiền tế, tả vu, hữu vu… nên đình có các kiểu khác nhau như: hình chữ “nhị” (), hình chữ “tam” (), chữ “khẩu” ()… Ví dụ: Đình Tây Đằng, thị trấn Tây Đằng (Ba Vì, Hà Nội) có niên đại khá sớm khoảng đời Trần (thế kỷ XV-XVI). Đình Đình Bảng, Bắc Ninh (năm 1732) là ngôi đình cổ đẹp và lớn nhất Việt Nam. Đình Chu Quyến (xã Chu Minh, Ba Vì, Hà Nội), đình Đoài Giáp (thôn Đoài Giáp, xã Đường Lâm, Ba Vì, Hà Nội), đình Lỗ Hạnh (Bắc Giang)… kiến trúc cũng khá tiêu biểu.

Đối với đình Trung bộ thường có bình đồ kiến trúc khá đơn giản gồm một tòa đại đình và hai nhà dải vũ ở hai bên ở phía trước hoặc sau. Qui mô đình Trung bộ nhỏ bé hơn so với đình ở Bắc bộ và Nam bộ. Ví dụ như Đình Hải Châu (TP. Đà Nẵng), Đình An Hải (Quảng Ngãi)...

Không gian kiến trúc đình Nam Bộ cao rộng và có chiều sâu hơn miền Bắc và miền Trung. Một số đình kiểu tứ trụ bốn mái mở ra bốn hướng làm cho không gian đình rộng và thoáng mát. Đình Nam bộ có mặt bằng kiến trúc và các đơn nguyên kiến trúc đa dạng, trong đó có một kiến trúc đặc biệt mà đình miền Bắc không có và đình Trung Bộ ít có, đó là nhà võ ca. Đây là chỗ tập kết nghi trượng phục vụ cúng tế, đồng thời là nơi diễn tuồng tích vào dịp lễ hội ở đình. Ví dụ: Đình Định Yên, đình Vĩnh Phước (Đồng Tháp), đình Bình Tự (cù lao Phố- Biên Hòa)...

* Bài trí trong đình

Đối với đình Bắc bộ, gian giữa đình có bàn thờ Thành hoàng làng. Một chiếc trống cái cũng được để trong đình để đánh vang lên theo nhịp ngũ liên thúc giục dân làng về đình tụ họp bàn tính công việc của làng.

Đối với đình Nam bộ, chánh điện cũng là nơi thờ Thành hoàng. Trên bệ thờ chánh điện thường có một ngai gỗ vàng đựơc chạm trổ tinh vi, sơn son thếp vàng để ở giữa, phía bên có bộ áo, mão, hia. Giữa chánh điện thường có chữ Hán đại tự “Thần” (). Một số đình thờ Thành hoàng có tên cụ thể và chánh điện có cốt tượng thờ. Thành hoàng chính là vị chỉ huy tối linh của làng xã không chỉ về mặt tinh thần mà còn một phần về mặt đời sống sinh hoạt vật chất của dân làng. Cho nên sự thờ phụng Thành hoàng cũng là sự thờ phụng luật lệ làng xã, lề thói của làng. Trong tâm thức người dân quê Việt, Thành hoàng là vị thần tối linh, có thể bao quát, chứng kiến toàn bộ đời sống của dân làng; bảo vệ, phù hộ cho dân làng làm ăn phát đạt, khoẻ mạnh. Ngoài thần Thành hoàng Bổn cảnh thờ tại chánh điện, đình làng Nam bộ còn thờ Tả ban, Hữu ban, Bạch Mã, Thái giám, Tiên sư, Tiền hiền, Hậu hiền… ở hai bên chánh điện cùng nhiều bức hoành phi và liễn đối ý nghĩa rất phong phú…

Sân đình thường có đàn thờ Thần Nông (tức Tắc thần), có nơi lập đàn tế chung với Thần Đất (tức Xã thần) gọi là đàn Xã Tắc. Hai bên đàn thường là các miễu thờ cọp (Chúa xứ Sơn quân), miễu thờ Hội đồng hoặc miễu thờ nữ thần như: Năm bà Ngũ hành, Chúa Xứ, Linh Sơn Thánh Mẫu, Chúa Tiên, Chúa Ngọc...

* Điêu khắc trang trí trên đình làng

Kiến trúc đình làng  mang đậm dấu ấn văn hóa, độc đáo và tiêu biểu cho kiến trúc điêu khắc Việt truyền thống. Thế kỷ XVIII, Việt Nam có khoảng 11.800 làng xã. Mỗi làng có một cụm kiến trúc nghệ thuật tín ngưỡng tôn giáo với hàng trăm pho tượng và nhiều đồ trang trí thờ cúng khác nhau.

Nghệ thuật điêu khắc đình làng ở miền Bắc là kho tàng hết sức phong phú của điêu khắc Việt Nam. Người thợ làm đình chẳng những thành thạo trong việc dựng đình mà còn biết tô điểm cho ngôi đình thêm đẹp. Điêu khắc do đó gắn liền với kiến trúc đình. Hầu như trên các thành phần của kiến trúc đình làng đều được các nghệ nhân xưa dùng bàn tay điêu luyện của mình chạm khắc thành những hình mẫu có giá trị nghệ thuật cao, thu hút sự chú ý của mọi người ghé thăm đình. 

Ở những ngôi đình có niên đại khoảng thế kỷ XVI - XVIII, điêu khắc trang trí đình làng mang đậm tính chất nghệ thuật dân gian. Người ta có thể gặp hình tượng những đôi trai gái đùa ghẹo nhau hay đang tình tự… trên các bức phù điêu trang trí của đình. 

Những tác phẩm điêu khắc mang đậm nghệ thuật dân gian với những đề tài, hình ảnh gần gũi với cuộc sống thực, thậm chí cả những giấc mơ của người nông dân với kỹ thuật chạm nông, chạm lộng, chạm bong kênh rất độc đáo, tỉ mỉ… Những ngôi đình tiêu biểu ở Bắc bộ như: Đình Bảng (Bắc Ninh), đình Bát Tràng (thôn Bát Tràng, xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội), đình Thổ Tang (Khu Bắc, Thị trấn Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Vĩnh Phúc), đình Tây Đằng (Hà Nội), đình Chu Quyến (Hà Nội), đình Thổ Hà (Bắc Giang), đình Phù Lão (Bắc Giang), đình Hoành Sơn (Nam Đàn, Nghệ An)… Nhưng từ thế kỷ XIX, điêu khắc đình làng hầu như không còn những cảnh sinh hoạt dân gian. Từ đây chỉ còn những hình trang trí hoa lá và phổ biến là hình tứ linh (long, ly, quy, phượng). Trong các đình thế kỷ XIX, thường có những bức cửa võng trước điện thờ được chạm trổ khá công phu.

Ở các ngôi đình miền Trung, điêu khắc trang trí không phong phú như các ngôi đình miền Bắc. Có người đã tổng kết về trang trí trên gỗ ở các ngôi đình vùng Thừa Thiên - Huế rất chính xác: Trong kết cấu gỗ của nội thất tùy quan niệm thẩm mỹ mà dân làng có thể chạm trổ chi tiết đầu rồng, đuôi rồng ở đầu đuôi kèo, chạm hoa và đường chỉ xuyên tâm ở thanh xà và đòn tay. Việc chạm trổ nhiều, thích ứng với các đình có kết cấu vừa phải, thanh tú. Chạm trổ ít, thích ứng với các đình có kết cấu gỗ to lớn, đồ sộ…”1. Đây cũng là tính chất trang trí nói chung của ngôi đình miền Trung. Nhưng nếu điêu khắc trang trí trên gỗ có giảm sút thì ngược lại, ở các ngôi đình miền Trung lại phát triển hình thức trang trí bằng cách đắp nổi vôi vữa và gắn các mảnh sành sứ lên phần ngoài của kiến trúc. Thường thì ở nóc mái và các đường gờ mái, người ta trang trí hình tứ linh. Ở hai đầu hồi thường được trang trí hình dơi (phúc) xòe cánh bằng sành sứ để cầu phúc. Nghệ thuật này phổ biến ở thời Nguyễn.

Đình miền Nam cũng có lối trang trí đắp nổi mặt ngoài gần giống đình miền Trung, nhưng điêu khắc trang trí trên gỗ thì cũng có điểm khác biệt. Phần lớn chạm khắc gỗ này đã có từ giữa thế kỷ XIX. Bốn cột đình thường được trang trí hình rồng uốn xung quanh, nên gọi là “long trụ”. Nhiều nơi, long trụ chạm rời bên ngoài ốp vào, nhưng cũng có nơi long trụ được trổ một khối nguyên… Ngoài những cột long trụ đình Nam Bộ thường có các bao lam trước điện thờ, như cửa võng trong các đình miền Bắc, được chạm trổ rất tinh vi, đề tài thường là tứ linh, cá hóa long, rồng, hổ, mây, hạc, bát tiên, bốn mùa… Các bao lam này thường được thếp vàng rực rỡ và đôi khi có những tấm bình phong điêu khắc rất công phu.

Trong năm thường diễn ra những lễ kỳ yên kết hợp với lễ Thượng điền, Hạ điền mở đầu hoặc kết thúc vụ cấy cày của một năm, phổ biến ở các đình làng người Việt. Lễ Tế kỳ phúc vào mùa xuân và mùa thu để cầu thần cho người dân được bình an. Các ngày Tết trong năm cũng có tế lễ ở thần ở đình làng như: Tết nguyên đán, Tết thanh minh, Tết đoan ngọ, Tết trung nguyên, Tết trung thu, Tết trùng thập… 

Có thể nói đình làng nơi thờ phụng Thành hoàng đã trở thành một biểu tượng thiêng liêng trong văn hóa tâm linh của mỗi người dân Việt Nam. Những hình thức lễ hội diễn ra tại đình làng vừa thể hiện niềm tin vào Thành hoàng làng vừa gửi gắm những tâm tư ước nguyện của người dân mong được may mắn, no đủ và yên lành trong cuộc sống. Đình làng với đặc điểm kiến trúc, mỹ thuật là những di sản văn hóa rất đặc sắc của dân tộc Việt Nam.

_______________________________

 1 http://thienthubinh.wordpress.com/2011/02/25/dinh-lang-m%E1%BB%99t-net-d%E1%BA%B9p-lang-que-vi%E1%BB%87t-nam/

​                                                                Bài và ảnh: Nguyên Thơ 


Các tin khác

    There are no items to show in this view.
Object reference not set to an instance of an object.

Liên kết webiste

Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai

 

Số lượt truy cập

Trong ngày:
Tất cả:

HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH ĐỒNG NAI
Địa chỉ: Số 30, Nguyễn Ái Quốc, phường Tam Hiệp, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại : 02513.822.992; Email: hvhnt@dongnai.gov.vn
Chịu trách nhiệm xuất bản: NSND. ĐD Giang Mạnh Hà - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai.
Trưởng Ban biên tập: Phạm Văn Hoàng - Phó Chủ tịch Thường trực Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai.