Bao nhiêu năm nay, dù không còn liên quan đến công việc đồng áng nhưng chiếc đòn gánh năm xưa vẫn luôn được mẹ tôi gìn giữ như một “báu vật".
Động viên mãi, cuối cùng mẹ cũng đồng ý nghỉ công việc ruộng đồng. Phải mất mấy năm trời, chị em tôi còn nhờ cả những người thân thiết động viên, thuyết phục mới thành công được cuộc “cách mạng" này. Phần thì mẹ đã có tuổi, sức khỏe không còn dẻo dai như trước, phần thì chị em chúng tôi đã học hành xong, công việc cũng đã ổn định nên muốn cho mẹ có thời gian được nghỉ ngơi. Mẹ bảo, bao nhiêu năm gắn bó với nó, giờ không làm, buồn chân, buồn tay, khó chịu lắm.
Vậy mà, dù không còn cấy hái, cày bừa, nhưng những nông cụ khi xưa vẫn được mẹ giữ gìn cẩn thận. Nghĩ giữ lại cũng chẳng để làm gì nên chị em chúng tôi động viên mẹ bỏ đi cho đỡ chật chội. Song mẹ vẫn khăng khăng, cứ để đó cho mẹ, nhỡ có lúc cần đến thì sao?
Mẹ là vậy. Chắt chiu, tằn tiện. Cái gì cũng giữ để khi cần. Một số vật dụng họa hoằn lắm còn sử dụng đã đành, nhưng chiếc đòn gánh gần như chả bao giờ động tới mẹ vẫn nhất quyết giữ lại cho bằng được. Nhìn chiếc đòn gánh nằm ngay ngắn trong góc bếp như gói ghém cả bầu trời tuổi thơ của chị em tôi ở đó. Nó khiến tôi nôn nao, chộn rộn mỗi khi nghĩ về.
Có lẽ, mẹ xem chiếc đòn gánh ấy như báu vật cũng đúng thôi. Nó không đơn thuần chỉ dùng để gánh nước, gánh rau, gánh lúa… mà đã từng gánh trọn cả những ước mơ của mẹ.
Một đời mẹ tần tảo, lam lũ sớm hôm. Không gánh mạ ra đồng thì cũng là gánh hàng ra chợ bán. Không gánh nước tưới rau thì cũng kĩu kịt những đứa con thơ dại… Tôi thích thú, cười đùa ngồi xoay tròn trong chiếc thúng của mẹ chẳng một chút nghĩ suy. Một đầu là tôi, đầu gánh bên kia có thể là mạ, là rau, là phân tro để bón ruộng... Nhiều hôm, chơi đùa chán, tôi đã ngủ ngon lành trên gánh hàng của mẹ. Đôi quang gánh cứ nhẹ nhàng nhún nhảy theo nhịp chân mẹ rồi hong khô chiếc áo đã sờn vai. Khi mỏi vai bên này, mẹ lại đổi sang vai khác. Cứ thế, mẹ gồng gánh ngược xuôi biết bao gian nan, thử thách. Để mãi sau này, khi được làm mẹ rồi, tôi mới cảm nhận hết những nhọc nhằn khi ấy.
Tôi nhớ có lần, ông ngoại lôi dưới ao lên một cây tre già, thấy ánh mắt tò mò của tôi, ngoại quay sang hỏi: Con có biết cây tre này dùng để làm gì không? Để làm đòn gánh đấy.
Ngoại bảo, chiếc đòn gánh là sự kết tinh của nền văn hóa nông nghiệp, là sự sáng tạo của trí óc cùng đôi bàn tay cần cù, khéo léo của những người nông dân chân lấm, tay bùn. Chẳng ai nhớ, chiếc đòn gánh có từ bao giờ, chỉ biết nó đã gắn với người dân Việt Nam từ đời này sang đời khác. Nó không chỉ là vật dụng đơn thuần mà còn “gánh được cả đất nước yêu quý của mình" nữa đó.
Tay thoăn thoắt đục đẽo, ngoại bảo, tre làm đòn gánh phải là những gốc tre già, tốt nhất là tre đực, nếu là tre cái chỉ dùng được đoạn gốc thôi. Thân tre phải thẳng, không bị sâu bệnh, mối mọt. Sau khi pha cây tre thành mảnh, vót nhẵn hai bên cạnh và các mắt tre cho bề mặt đòn gánh nhẵn nhụi, đẹp mắt.
Tại mỗi đầu của thanh tre sẽ được khắc rãnh sâu, tạo thành cái mấu để làm chỗ treo quang gánh. Vị trí khắc rãnh ở hai đầu đòn gánh phải cân xứng với nhau mới có thể đảm bảo độ cân bằng. Ngoại nói, điều kiêng kỵ nhất khi làm đòn gánh là để đòn gánh bị vênh. Theo quan niệm xưa, ngoài việc đau vai, người gánh còn gặp nhiều chuyện không hay nữa.
Một đòn gánh dài ngắn có thể không giống nhau, nhưng thường phải đủ số gióng tre là con số lẻ như năm, bảy hoặc chín. Điều này sẽ đem lại nhiều may mắn, phúc lộc cho gia chủ. Đòn gánh tre sau đó còn được vùi vào tro nóng, treo trên gác bếp nhằm tăng độ dẻo khi gánh. Hoặc nhiều nơi còn dùng cách ngâm xuống bùn để chống bị mối mọt.
Chiếc đòn gánh tốt hay không, người ta sẽ nhìn vào sự dẻo dai của nó. Nếu đòn gánh quá cứng, người gánh lâu sẽ rất đau vai, còn nếu mềm quá không những không đỡ được trọng lượng hai đầu mà còn rất dễ bị gãy. Chỉ cần nghe tiếng kêu của chiếc đòn gánh ta có thể đoán được nó như thế nào. Một chiếc đòn gánh đạt chuẩn, khi gánh phải dẻo, phát ra tiếng kêu kĩu kịt đều theo nhịp bước. Một chiếc đòn gánh tốt có thể làm giảm bớt sức nặng trên vai… Cứ thế, ngoại nói về chiếc đòn gánh một cách say mê, thuần thục như một nhà nghiên cứu dù chỉ biết đọc, biết viết một cách đơn thuần.
Chiếc đòn gánh của ngoại làm ngày ngày theo bước chân nhịp nhàng của mẹ trên triền đê lộng gió, bóng mẹ ngả nắng lưng chiều. Bước chân ấy cứ lặng lẽ trên những con đường làng, trên cánh đồng cò bay thẳng cánh cũng có thể là góc chợ quê khuya sớm rộn ràng. Mẹ gánh cả những nhọc nhằn buổi chợ, dẫu là mua hay bán.
Suốt những năm tháng ấy, mẹ gánh gồng những đứa con thơ dại, gánh gồng ăm ắp những yêu thương. Mẹ gánh gồng trong cả những giấc ngủ chập chờn, mộng mị. Cả đời mẹ ngược xuôi tất bật mà chẳng bao giờ than vãn lấy một lời. Chiếc đòn gánh cứ bần bật trên vai mẹ. Chiếc đòn gánh cứ dẻo dai, chịu khó, tảo tần như chính mẹ, như chính những người phụ nữ làng tôi.
Ngày học cấp ba, thi thoảng tôi theo mẹ ra đồng gánh nước tưới rau, có khi là gánh mạ cho mẹ cấy. Nhưng chỉ được một lúc, đôi chân tôi chẳng còn muốn bước, hai bên vai đã sưng phồng lên đau rát, thậm chí vết thương ấy kéo dài hàng tuần mới hết dư âm. Có lần, tôi nhăn nhó hỏi mẹ, tại sao mẹ của con siêu nhân thế? Mẹ gánh như vậy mà chưa bao giờ thấy mẹ kêu đau? Mẹ nhìn tôi bằng một nụ cười ấm áp, chỉ cần các con chăm ngoan, học giỏi thì những mệt mỏi, buồn phiền trong mẹ sẽ nhanh chóng tan đi. Nhìn những lớp chai sần trên đôi vai mẹ khiến lòng tôi không khỏi xót xa. Và tôi luôn tự nhủ, sẽ cố gắng học tập thật tốt để không phụ công lao trời biển ấy.
Chị em tôi cứ hồn nhiên lớn khôn, tóc mẹ cũng chuyển sang màu mây xám. Làng tôi cứ dần đổi thay, chiếc đòn gánh của mẹ năm xưa chẳng còn ai dùng tới nữa.
Những đứa trẻ như chúng tôi lần lượt rời làng lên phố, đứa đi học, đứa đi làm, xa dần những gốc tre nồng hậu. Nhưng chiếc đòn gánh cũ kỹ, nhẵn bóng nơi xó bếp vẫn ăm ắp những yêu thương của mẹ năm nào.
H.Đ
Nguồn: Văn nghệ Đồng Nai số 92 (Tháng 10 năm 2025)