Thứ 6 - 26/02/2016
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây
MỪNG ĐẤT NƯỚC ĐỔI MỚI, MỪNG ĐẢNG QUANG VINH, MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ 2026!
TÂM THỨC LÀNG DƯỚI GÓC NHÌN KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN TRONG TẬP THƠ "VÉN MÀN" CỦA LÊ SỸ TÙNG

bia Vén màn.jpg 

“Vùng trời quê hương nào cũng là bầu trời Tổ quốc" (Nguyễn Minh Châu). Tuy rời xa làng quê Triệu Sơn (Thanh Hóa) để vào Nam lập nghiệp, nhưng trong tâm thức nhà thơ Lê Sỹ Tùng, hình ảnh làng quê vẫn luôn đau đáu. Từ đó, ông thai nghén và cho ra đời tập thơ Vén màn (NXB Văn học, 2025).
Tâm thức là sự nhận biết, ý thức và cảm xúc của con người trước thế giới khách quan. Nó bao gồm suy nghĩ, kí ức, niềm tin, tri giác... tạo nên đời sống tinh thần. Tâm thức làng trong thơ là cách cảm nhận sâu sắc về quê hương: những kỉ niệm, tình cảm, âm thanh, không gian, giá trị văn hóa - tinh thần. Đó là sự gắn bó không thể tách rời giữa tâm hồn thi sĩ và làng quê, ngay cả khi xa xứ, “tiếng sóng" quê hương vẫn vang vọng.
Trong thơ Lê Sỹ Tùng, tâm thức làng xuất hiện từ sớm, nhưng ở tập Vén màn, ông hé lộ thêm những nỗi đau đáu về không gian - thời gian, về sự ra đi và trở về, cái đổi thay và cái vẹn nguyên.
1. Tâm thức qua không gian làng quê
Không gian làng không chỉ là bối cảnh vật chất mà còn là môi trường tinh thần nuôi dưỡng con người. Đó là không gian sinh hoạt cộng đồng (sân đình, bến nước, chợ phiên), không gian lao động (ruộng đồng, bờ bãi, ao chuôm), không gian tâm linh (đình làng, miếu, giếng nước), không gian kí ức tình cảm (mái nhà, đống rơm, ngõ nhỏ...). Chúng không chỉ gắn với đời sống thực, mà còn thành hệ quy chiếu thiêng liêng, neo giữ bản sắc.
Trong thơ Lê Sỹ Tùng, hiện lên đầy đủ hình ảnh ao đình, hoa xoan, ngõ rêu, cây rơm, lũy tre, hội làng... Sinh năm 1970, mồ côi cha mẹ sớm, ông phải mò cua bắt ốc kiếm sống. Bởi thế cánh đồng, ao làng in hằn sâu trong kí ức.
Gió xuân cho cải ngồng nghiêng
Hoa xoan rụng cả tháng Giêng hội làng
Vườn mai hé nụ ngỡ ngàng
Nắng thơm hương mật nhựa vàng tràn môi.

(Giao thừa nhớ mẹ nhớ quê)

 
Ta về tát cạn ao đình
Để tìm cho được bóng mình ngày xưa
Ta về leo đỉnh Núi Nưa
Hái chùm sim tím cho vừa nhớ mong

(Tát - thơ viết cho làng)

 
Ta ngồi vén lại lối quê
Ngõ rêu trơn trượt gái sề vẫn thơm
Ta về vén lại đống rơm
Thoảng hương cốm mới nhã đơm mùa vàng
 
Vén màn sau lũy tre làng
Dấu xưa ngã bật cứ lằng nhằng đeo
Ta ngồi vén mảnh trăng treo
Lòi ra ánh mắt còn theo bỉu dè...

(Vén màn)

Những hình ảnh ấy vừa quen thuộc, vừa mới lạ. Ví dụ, “cải ngồng nghiêng" - thay cho sắc vàng tĩnh tại thường thấy trong ca dao, nay gợi dáng mảnh mai run rẩy trong gió xuân, như một ẩn dụ về tâm trạng con người trước mùa mới. Hay câu “tát cạn ao đình" để tìm bóng mình ngày xưa. Ao đình vốn là nơi sinh hoạt cộng đồng, nhưng giờ trở thành tấm gương kí ức, nơi thi sĩ muốn “tát cạn" thời gian để tìm lại cái tôi tuổi thơ.
Đặc biệt, hình ảnh “Ngõ rêu trơn trượt gái sề vẫn thơm" táo bạo và chân thực. Thơ làng quê hiếm khi nhắc đến “gái sề" - một cách nói dân dã, nhưng Lê Sỹ Tùng đưa vào để giữ chất thật của đời sống, khẳng định vẻ đẹp mộc mạc. Hay loạt câu thơ với từ khóa “vén" như vén lũy tre, vén đống rơm, vén mảnh trăng... Từ “vén" được nâng thành thủ pháp nghệ thuật, như động tác lật mở từng lớp kí ức. “Vén trăng" là sáng tạo độc đáo, gợi cảm giác con người trực tiếp chạm vào vũ trụ, tâm linh.
Bốn hình ảnh nổi bật - “cải ngồng nghiêng", “tát cạn ao đình", “gái sề vẫn thơm", “vén mảnh trăng treo" - đã làm mới thơ làng quê, mở ra chiều sâu tâm thức vừa hiện thực, vừa kí ức, vừa tâm linh.
2. Tâm thức thời gian trong nỗi nhớ quê
Thời gian trong tâm thức làng không chỉ tuyến tính mà còn là thời gian cảm xúc, kí ức. Trong thơ Lê Sỹ Tùng, ta bắt gặp nhiều dạng thời gian khác nhau:
Thời gian hiện tại - thong dong, tùy hứng:
Thích là đi, thích là về
Đôi khi lại thích ê chề bao vây
Thích ngồi ở dưới hàng cây
Để nghe mắt lá chớp đầy ngày xanh...

(Bên hiên nhà)

Đây là kiểu thời gian tự do, gắn với tâm thế người quê hòa mình vào thiên nhiên. “Mắt lá chớp đầy ngày xanh" là hình ảnh sáng tạo, biến khoảnh khắc nhỏ bé thành chiều dài một ngày xanh, cho thấy tâm thức nông thôn biết kéo giãn hiện tại để sống an nhiên.
Thời gian ra đi - trở về:
Ở nhiều bài thơ, hình ảnh ra đi - trở về trở thành nỗi niềm day dứt.
Người về lăn lóc đường ray
Sân ga lạnh buốt trút đầy ngực tôi
Bỗng nghe đau điếng không lời
Tiếng còi vừa hú đã rời rạc xa...

(Thơ viết cho mình)

Sân ga, tiếng còi tàu gợi thời gian tuyến tính - một khi rời đi là mất mát không thể quay lại. Hay trong Tát - thơ viết cho làng:
Ta về tát cạn ao đình
Để tìm cho được bóng mình ngày xưa
Đây là kiểu thời gian ngược dòng, tát cạn lớp phù sa kí ức để tìm lại tuổi thơ.
Trong Vén màn:
Ta về vén lại đống rơm
Thoảng hương cốm mới nhã đơm mùa vàng
“Vén đống rơm" cũng là thao tác vén bụi thời gian để trở lại kí ức, gắn với mùi hương, mùa vụ.
Tuy nhiên, khi trở về, tác giả lại cảm giác ngờ ngợ, hụt hẫng:
Con đứng giữa quê ngờ ngợ lối về
Đây gốc mít năm xưa
Đây rặng dừa nghiêng bóng
Vẫn giọt sương long lanh đọng hoa chanh hoa khế
Vẫn hoa cải hoa cà vàng cả lối quê...

(Vườn mẹ ngày xuân)

“Ngờ ngợ lối về" phản ánh sự đứt gãy kí ức, chỉ còn những dấu vết neo giữ. Đó là bi kịch thời gian: kí ức quá lớn, thực tại không đủ khỏa lấp, càng tìm về càng thấy thiếu, càng khát khao.
Thời gian trong tiềm thức - gắn với nỗi nhớ mẹ và người thân.
Với Lê Sỹ Tùng, nhớ quê bắt đầu bằng nhớ mẹ, nhớ cha, rồi đến anh chị em, hàng xóm. Mồ côi cha mẹ khi chưa đầy 10 tuổi, ông càng khắc khoải:
Mẹ ngồi ngong ngóng giữa sân
Cứ tần ngần mãi phân vân con về...
Hương trầm thơm mãi đất quê
Gói làm sao được bốn bề Mẹ ơi!

(Giao thừa nhớ mẹ nhớ quê)

Cha mẹ mất, chỉ còn “hương trầm" thay bóng dáng mẹ. Hay:
Ta về đổ lúa ra hong
Mẹ ngồi trên ảnh vẫn mong thiếu thừa

(Tát - thơ viết cho làng)

Hình ảnh người mẹ vừa hiện thực vừa hư ảo. “Mẹ ngồi trên ảnh" nhưng trong tâm thức nhà thơ, mẹ vẫn “mong thiếu thừa", nghĩa là vẫn lo toan, chắt chiu cho con cháu như khi còn sống. Mẹ không chỉ gắn với kí ức tình cảm, mà còn là biểu tượng lao động. Nỗi nhớ mẹ cũng là nỗi nhớ ruộng đồng, nhớ dáng hình lam lũ của người nông dân quê. Nhờ đó, “tâm thức mẹ" trở thành hạt nhân của “tâm thức làng" - nơi hội tụ tình thương, sự hi sinh và kí ức lao động.
Trong thơ, hình ảnh anh chị, hàng xóm cũng hiện lên thân thương:
Anh ngồi thông điếu thuốc lào
Chân trần mũ cối vẫy chào người thân
Chị giờ tóc đã hoa râm
Lân la lẩn thẩn có cần chi không...

(Đất và người)

Quê hương còn là xóm làng rộn ràng, chan chứa tình nghĩa:
Xóm làng vui thật là đông
Đất lề quê thói trầu không vẫn mời
Râm ran câu chuyện khóc cười
Ta xin làm vốn lãi lời đãi quê

(Đất và người)

Trở về quê, vì vậy, cũng là trở về cộng đồng, bù đắp sự lạc lõng của người xa xứ.
Trong Vén màn, Lê Sỹ Tùng đã “vén lại lối quê, vén đống rơm, vén màn sau lũy tre, vén mảnh trăng treo" - như thao tác kí ức. Mỗi lần “vén" là một lần khơi mở chiều sâu tâm thức. Từ hương cốm, ngõ rêu đến ánh mắt; từ hoa sim, hoa cải, gốc mít, rặng dừa đến người mẹ, người cha, người làng... Tất cả neo đậu trong tâm hồn thi sĩ, thành nỗi đau đáu khôn nguôi.
Tâm thức làng quê trong thơ Lê Sỹ Tùng vừa hiện thực vừa huyền ảo, vừa kí ức vừa tâm linh, mở ra một không gian - thời gian quê hương không bao giờ khép lại trong lòng người xa xứ.

H.N
Nguồn: Văn nghệ Đồng Nai số 92 (Tháng 10 năm 2025)


HỒNG NHẠN
Object reference not set to an instance of an object.

Liên kết webiste

Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai

 

Số lượt truy cập

Trong ngày:
Tất cả:

HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH ĐỒNG NAI
Địa chỉ: Số 30, Nguyễn Ái Quốc, phường Tam Hiệp, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại : 02513.822.992; Email: hvhnt@dongnai.gov.vn
Chịu trách nhiệm xuất bản: NSND. ĐD Giang Mạnh Hà - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai.
Trưởng Ban biên tập: Phạm Văn Hoàng - Phó Chủ tịch Thường trực Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai.