Thái Yên quê tôi chẳng biết ai đã đặt tên làng. Có lẽ ước vọng ngàn đời người miền quê ấy mong sự thái bình thịnh vượng, an yên mà sum vầy nên mới có tên gọi ấn tượng thế. Chỉ biết ngôi làng diệu kì này nằm bên bờ một nhánh con của sông La dịp cuối đông nay nước trong xanh văn vắt. Dòng sông hiền lành chảy qua bao mùa mưa nắng, chứng kiến bao thăng trầm của nghề mộc. Ngày thường, bến sông lúc nào cũng tấp nập bè gỗ từ thượng nguồn xuôi về. Gỗ lim, gỗ xoan, gỗ mít... từng thân tròn thẫm nước, lặng lẽ trôi theo dòng, cập bến trong tiếng gọi nhau í ới của thợ thuyền. Nhưng những ngày cận Tết, bến sông trầm lắng hẳn. Không còn cảnh gỗ chất cao như núi, không còn tiếng người khuân vác hối hả. Thay vào đó là hình ảnh những người bà, người mẹ, người chị mang lá dong ra rửa. Lá xanh ngắt, mát lạnh, được đắm mình dưới dòng nước trong veo, khẽ rung rinh theo sóng nước. Tiếng nói cười khe khẽ, tiếng nước vỗ mạn thuyền, tất cả hòa vào nhau tạo thành bản nhạc Tết rất khẽ, rất sâu.
Thợ mộc nghỉ Tết muộn hơn thợ cày, thợ cấy. Qua rằm tháng Chạp, khi ruộng đồng đã yên, trâu bò thong thả gặm cỏ ven bờ, thì trong làng tôi, những người thợ mộc vẫn còn miệt mài hoàn thiện nốt bộ phản, cái tủ, chiếc giường cho kịp giao khách. Chỉ đến sát ngày cúng ông Công, ông Táo, tiếng cưa mới thôi rít, tiếng búa mới thôi gõ, làng mộc mới thật sự bước vào Tết.
Làng mộc vào Tết không ồn ào như chợ huyện, cũng không rực rỡ đèn hoa như phố thị, nhưng có một điều rất riêng, ấy là sự nhộn nhịp để nghỉ ngơi sau cả một năm vất vả. Những bàn tay chai sần cũng được dừng lại để con người sống trọn vẹn với hơi thở đoàn viên. Từ đó, nhà nhà bắt đầu dọn dẹp. Sân được quét sạch từng góc, hiên được lau bóng đến mức có thể soi thấy mây trời. Những chiếc tủ gỗ lâu năm được đánh lại bằng vỏ trấu, nước chè, bỗng ánh lên màu nâu sẫm, trầm ấm. Không khí đón Tết cứ thế rộn ràng lên từng ngày. Sau một năm bận rộn, thợ mộc dừng việc, thong thả hơn bao giờ hết. Những buổi sáng sớm, khi sương còn vương trên hàng rào chè tàu, các bác, các chú lại sang nhà nhau uống nước chè. Ấm chè xanh nghi ngút khói, chén sứ thơm nồng. Câu chuyện xoay quanh việc năm nay bán được nhiều đồ không, giá gỗ lên xuống thế nào, rồi lại kể chuyện con cái học hành, chuyện cưới xin trong làng. Không ai nói chuyện lớn lao, nhưng mỗi câu chuyện đều đượm hương đời sống làng mộc.
Tết ở làng mộc không mấy ai phải sắm sửa đồ nội thất. Nhà nào trong làng cũng có sẵn đồ mới, bởi nếu không tự làm thì cũng được nhà khác mang sang để nhờ. Người ta còn tặng nhau những cái ghế, chiếc bàn, hay đôi câu đối chạm khắc tinh xảo, vừa làm quà Tết, vừa là tình làng nghĩa xóm. Không ai tính toán hơn thiệt, bởi ai cũng hiểu: nghề mộc dạy con người ta cách cho đi, từ thớ gỗ này sang đồ dùng khác, từ nhà này sang nhà kia.
Ở quê tôi, củi thường không thiếu. Thợ mộc dành riêng những loại củi thơm. Củi mít, củi nhãn để nấu bánh chưng, đốt bếp ngày Tết. Đêm hăm tám, hoặc hăm chín trừ tịch, khói bếp bay lên, quyện với mùi lá dong, mùi nếp mới, mùi đỗ xanh, dậy một mùi hương Tết rất riêng, rất làng mộc. Mùi khói ấy len lỏi từng mái nhà, trú ngụ áo quần, tóc tai, để rồi đằm sâu theo kí ức mỗi người suốt cả đời.
Làng mộc có truyền thống lâu đời rằng con trai, con gái trong làng thường lấy nhau. Bởi thế, đi một vòng quanh làng, gặp đâu cũng là người quen, người thân. Bên này là bác họ, bên kia là chị dâu, xa hơn một chút cũng là thông gia, là họ hàng. Tình làng nghĩa xóm vì thế mà bền chặt. Gái làng mộc nổi tiếng đảm đang. Từ nhỏ đã quen với mùi gỗ, tiếng đục, tiếng cưa nên khá khéo tay. Tôi về làm dâu làng mộc, được mẹ chồng dạy từng việc nhỏ như pha trà sao cho nước xanh mà đủ chát, ủ rượu nếp sao cho thơm mà vừa nồng. Những bài học ấy không ghi trong sách mà truyền bằng tay, bằng mắt, bằng sự kiên nhẫn của người mẹ dành cho con dâu. Và tôi hiểu, làm dâu làng mộc không chỉ là về chung một nhà, mà là học cách sống cùng một nếp nghề, nếp làng.
Tết ở làng mộc tưng bừng theo cách rất riêng. Trẻ con không có nhiều đồ chơi mua sẵn ngoài chợ, nhưng lại có những món đồ mà không nơi nào có được. Con ngựa gỗ, chiếc xe kéo, con quay, thanh kiếm... do chính tay bố mẹ chúng làm. Những món đồ ấy không bóng bẩy, nhưng chắc, bền như chính con người làng mộc. Nhà nào cũng trưng bày đồ thủ công mĩ nghệ. Có nhà bày bộ trường kỉ chạm rồng phượng, có nhà treo bức hoành phi mới tinh, chữ thơm mùi gỗ. Đó không chỉ là để khoe tay nghề, mà còn là niềm tự hào của người làng nghề sống bằng đôi tay và khối óc.
Con trai, con gái làng mộc vốn khéo tay, lại hiếu học. Có lẽ bởi sâu thẳm trong mỗi người đều có linh cảm mơ hồ về sự bấp bênh của nghề. Gỗ ngày một hiếm, đồ công nghiệp ngày một nhiều, những sản phẩm làm bằng máy rẻ và nhanh hơn rất nhiều. Vì thế, con em làng mộc được cha mẹ nhắc nhở phải học, để có thêm con đường khác, dù trong lòng ai cũng đau đáu nỗi lo. Nếu mai này không còn ai nối nghề, làng mộc rồi sẽ ra sao?
Những đứa trẻ hiếu học lớn lên rồi đi xa, để những ngày giáp Tết, làng mộc sẽ rộn ràng thêm bởi bước chân của những người con xa xứ trở về. Con đường làng vốn yên ả bỗng đông hơn, tiếng xe dừng trước cổng, tiếng gọi nhau í ới, tiếng cười bật lên sau cái ôm thật chặt. Những bàn tay quen cầm búa, cầm đục nay lại vỗ lên vai nhau, chai sần mà ấm áp đến lạ. Ai đi xa cũng mang theo bụi đường, mang theo những lo toan mưu sinh, để rồi khi bước qua cổng làng, tất cả như được đặt xuống, nhường chỗ cho cảm giác bình yên rất cũ.
Làng mộc không có những món quà đắt tiền để biếu người trở về, nhưng lại có những món quà nhỏ xinh, mang trọn hồn quê. Đó có khi chỉ là chiếc lược gỗ nhẵn mịn, cái thìa, cái muôi được vót cẩn thận, hay một con tò he bằng gỗ cho đứa trẻ lần đầu theo cha mẹ về làng. Có nhà còn gói ghém cả một khung ảnh gỗ, mộc mạc mà chắc chắn, để người đi xa mang theo, đặt lên bàn làm việc nơi phố thị, mỗi lần nhìn lại nhớ về mái nhà xưa. Những món quà ấy là tấm lòng của làng gửi cho người đi xa, là lời nhắn nhủ thầm lặng. Dẫu có ở đâu, làm nghề gì, thì nơi này vẫn là chốn để quay về. Và trong khoảnh khắc nhận món quà nhỏ từ tay người thân, nhiều người con làng mộc chợt thấy sống mũi cay cay, bởi hiểu rằng có những giá trị giản dị mà đi hết đời người, ta vẫn chỉ mong được nắm giữ mãi.
Những năm gần đây, bởi sự cạnh tranh của đồ gỗ công nghiệp, Tết ở làng mộc bên cạnh niềm vui còn phảng phất một nỗi ưu tư. Đó là những người vợ ngóng chồng đi xuất khẩu lao động, của những người mẹ chờ con nơi đất khách. Thế nhưng, dù đổi thay thế nào, Tết ở làng mộc vẫn giữ được cốt cách riêng với mùi khói bếp quen thuộc, là tiếng cười bên ấm chè, những bàn tay sờn gỗ nhưng ấm áp tình người. Và trong sâu thẳm mỗi người con làng mộc, Tết không chỉ là thời khắc chuyển giao năm cũ sang năm mới, mà còn là dịp để nhớ về một nghề, một làng. Miền kí ức không thể phai mờ.
Nguồn: Văn nghệ Đồng Nai số 97 (Tháng 3 năm 2026)