
Thăm Trường Sĩ quan Không quân ở Nha Trang - Ảnh: Đào Sỹ Quang
Trại sáng tác văn học Nha Trang được Trung tâm Hỗ trợ sáng tác VHNT cùng Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức từ ngày 4/4 đến 13/4/2026 trong bối cảnh đời sống văn học Việt Nam đang có nhiều chuyển biến mạnh mẽ cả về nội dung phản ánh lẫn phương thức biểu đạt. Trước yêu cầu đổi mới sáng tạo, việc tổ chức các trại sáng tác không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ cá nhân người viết mà còn góp phần định hình xu hướng phát triển của văn học đương đại.
Bài viết này bước đầu đánh giá các kết quả đạt được trong thời gian diễn ra trại, trên cơ sở phân tích các tác phẩm tham gia, từ đó rút ra những nhận định về khuynh hướng nội dung, đặc điểm thi pháp, cũng như những vấn đề đặt ra đối với hoạt động sáng tác hiện nay.
Tham gia Trại sáng tác lần này có 15 tác giả ở mọi miền đất nước, với tinh thần nhiệt huyết cao, đã trình làng bản thảo thuộc nhiều thể loại khác nhau, bao gồm: tiểu thuyết, truyện ngắn, trường ca, thơ, truyện ký, tản văn, nghiên cứu phê bình…
Tổng số bản thảo được ghi nhận có dung lượng lớn, từ vài chục trang đến hàng trăm trang A4, trong đó có những công trình quy mô như tiểu thuyết nhiều tập và công trình nghiên cứu chuyên sâu.
Tiểu thuyết chiếm tỷ lệ đáng kể, với nhiều tác phẩm có quy mô lớn như bộ tiểu thuyết Tổ đỉa của Lê Thanh Kỳ, có độ dài 2000 trang, đang hoàn thiện và tiếp tục viết tập 3, tiểu thuyết Thiên di của Đoàn Hữu Nam, có độ dài 60 chương, đang viết; tiểu thuyết Pao Ly của Cầm Sơn 126 trang, đã hoàn thành
Truyện ngắn và chùm truyện ngắn là thể loại phổ biến, phản ánh nhanh nhạy đời sống, đáng kể là tập truyện Hoàng thu phố của Tống Ngọc Hân, gồm 13 truyện ngắn, Gãy râu rồng của Hồ Việt Khuê, gồm 13 truyện ngắn, và chùm 7 truyện ngắn của Đào Sỹ Quang, 4 truyện ngắn của Cao Thanh Mai, 3 truyện ngắn của Hoàng Ngọc Điệp, 2 truyện ngắn của Minh Hạ.
Truyện ký - tản văn, có tác phẩm Thằng Dũng đẹt của Trần Thanh Dũng, 126 trang
Trường ca lần này với Biển không có sóng của Bùi Minh Vũ, 63 trang, có dung lượng khá lớn.
Về thơ, tuy dung lượng không lớn nhưng giữ vai trò quan trọng về biểu đạt cảm xúc, có thể kể đến là tập thơ Người là giọt thức của Huy Trụ, có 36 bài thơ, chùm thơ Hạnh Lâm, 15 bài, chùm thơ Đỗ Minh Dương 15 bài, thơ Minh Hạ 7 bài.
Nghiên cứu phê bình xuất hiện với một công trình có tính học thuật cao: Văn xuôi Việt Nam đương đại viết về vấn đến an ninh xã hội của Cao Thị Hảo.
Điều này cho thấy sự cân đối tương đối giữa các thể loại, đồng thời phản ánh xu hướng tiếp tục đầu tư vào các thể loại dài hơi như tiểu thuyết. Qua 15 tập bản thảo trên, có thể thấy khuynh hướng nội dung được phân định rõ ràng:
Biển đảo và chủ quyền quốc gia, thể hiện trong trường ca với Biển không có sóng của Bùi Minh Vũ tập trung khai thác không gian biển đảo, đặc biệt là Trường Sa - Hoàng Sa, với cảm hứng sử thi kết hợp trữ tình, thể hiện ý thức rõ nét về chủ quyền lãnh thổ và tinh thần dân tộc.
Đề tài đời sống xã hội đương đại, với nhiều tác phẩm phản ánh trực diện đời sống hiện nay: Vấn đề công nhân và hệ lụy của đại dịch (tiểu thuyết Pao Ly của Cầm Sơn), các biến động kinh tế - xã hội, những xung đột trong quá trình chuyển đổi cơ chế và nhận thức mù quáng thể hiện trong Thiên di của Đoàn Hữu Nam, Tổ đỉa của Lê Thanh Kỳ. Đây là mạch đề tài có tính thời sự, xã hội-lịch sử, khẳng định sự gắn bó của văn học với đời sống.
Văn hóa vùng miền, bản sắc dân tộc và những vấn đề nhạy cảm của xã hội hiện đại thấy khá rõ nét trong tập truyện Hoàng thu phố của Tống Ngọc Hân; phản ảnh những vấn đề có tính thời sự như Gãy râu rồng của Hồ Việt Khuê; đôi khi là những lát cắt của đời sống đương đại với những buồn vui, trăn trở, hy vọng thể hiện trong truyện ngắn Hoàng Ngọc Điệp; cũng có thể thấy tình yêu thương đối với gia đình, tình yêu đôi lứa, hướng con người đến sống thuỷ chung, thông cảm và chia sẻ thể hiện qua chùm truyện ngắn Cao Thanh mai.
Đề tài chiến tranh và hậu chiến tiếp tục được khai thác, nhưng có xu hướng chuyển từ miêu tả sự kiện sang khám phá chiều sâu tâm lý và số phận con người trong và sau chiến tranh như chùm truyện ngắn của Phạm Thị Hệ; phản ánh sự hy sinh của người lính trong chiến tranh và hòa bình, kết nối quá khứ và tương lai trong truyện ngắn Đào Sỹ Quang.
Tình yêu quê hương đất nước với tập thơ Người là giọt thức của Huy Trụ, chùm thơ Hạnh Lâm, Đỗ Minh Dương, Minh Hạ.
Tự truyện xuất hiện với với tập truyện ký- tản văn Thằng Dủng đẹt của Trần Thanh Dũng ghi chép một thoáng đời của tác giả trải dài từ thời thơ ấu đến hôm nay trong mối quan hệ với văn nghệ sĩ cả nước
*
Có thể thấy đặc điểm nghệ thuật đầu tiên là khuynh hướng hiện thực kết hợp trữ tình, lựa chọn cách tiếp cận hiện thực nhưng không thuần túy phản ánh, mà có sự “thi vị hóa", tạo nên sự cân bằng giữa tính chân thực và giá trị thẩm mỹ như tiểu thuyết Pao Ly của Cầm Sơn, Gãy râu rồng của Hồ Việt Khuê; tăng cường yếu tố tự sự cá nhân, có tính tự truyện hoặc bán tự truyện, cho thấy xu hướng cá nhân hóa trải nghiệm sáng tác như trong Thằng Dũng đẹt của Trần Thanh Dũng; khá phổ biến là đa dạng hóa giọng điệu, sử dụng nhiều giọng điệu khác nhau như trữ tình, châm biếm, triết luận, tự sự… sự đa dạng này phản ánh nỗ lực đổi mới trong biểu đạt của Tống Ngọc Hân, Hoàng Ngọc Điệp, Cao Thanh Mai, Đào Sỹ Quang; có sự tìm tòi trong cấu trúc tiểu thuyết, cho thấy tham vọng về cấu trúc lớn, nhiều tuyến nhân vật và vấn đề xã hội phức tạp như trong tiểu thuyết Tổ đỉa của Lê Thanh Kỳ; xuất hiện phong cách huyền ảo, lịch sử, trữ tình đan xen hiện thực nghiệt ngã, khái quát trong cụ thể, đi vào lõi để nêu bật từng sự kiện sự việc như Thiên di của Đoàn Hữu Nam; cảm hứng sử thi kết hợp trữ tình thể hiện khá rõ trong trường ca Biển không có sóng của Bùi Minh Vũ.
*
Cũng có thể hình dung ra các nhóm tác phẩm quy mô lớn, bao gồm các tiểu thuyết và trường ca với dung lượng lớn. Nhóm này thể hiện rõ sự đầu tư nghiêm túc, khả năng bao quát hiện thực và tham vọng nghệ thuật. Nhóm truyện ngắn, có ưu thế về tính linh hoạt, phản ánh nhanh các vấn đề đời sống, đồng thời thể hiện rõ cá tính sáng tác. Nhóm thơ tập trung vào cảm xúc cá nhân gắn với tình yêu quê hương, đất nước, thiên nhiên. Một số bài thơ có khả năng tạo hình ảnh đẹp và giàu tính biểu tượng. Nhóm nghiên cứu phê bình, là điểm nhấn của trại lần này, góp thêm một góc nhìn lý luận, giúp định vị các vấn đề của văn học đương đại, bổ sung chiều sâu học thuật cho trại sáng tác.
Nhìn một cách cẩn trọng, có thể thấy số lượng và chất lượng bản thảo lần này đáng ghi nhận; đề tài phong phú, bám sát đời sống, đã giữ vững định hướng nhân văn; có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại; không có tác phẩm có màu sắc siêu thực hay hậu hiện đại, thật tiếc.
Tuy nhiên, có thể nhấn mạnh thêm rằng trong trại viết lần này, có sự đa dạng về thể loại từ thơ, truyện ngắn, tản văn, tiểu thuyết đến nghiên cứu phê bình. Điều này cho thấy sự quan tâm đến nhiều mảng sáng tác khác nhau của các tác giả, khẳng định sự nghiêm túc và năng suất, với khoảng 1.280 trang A4 được nộp trong 10 ngày, chưa kể các tác phẩm đang dang dở, có thể nói đây là một trại sáng tác có sản lượng cao. Đặc biệt, có những tác phẩm có quy mô lớn như Thiên Di, Tổ đỉa, Pao Ly, Biển không có sóng, Hoàng Thu Phố, chứng tỏ sự đầu tư công phu của tác giả ngay cả trước khi vào trại.
Sự hiện diện của mảng nghiên cứu phê bình với Cao Thị Hảo trình làng một công trình nghiên cứu chuyên sâu (188 trang, 3 chương) là một điểm cộng lớn, nâng tầm trại sáng tác từ hoạt động thuần sáng tác sang hoạt động có chiều sâu học thuật.
Điều dễ nhận ra trong trại sáng tác lần này có đề tài mới và nhạy cảm như Tổ đỉa với câu hỏi về dòng tiền sau cổ phần hóa, Thiên di với đề tài xưng vua của người H'Mông, Văn xuôi Việt Nam đương đại viết về an ninh xã hội, đây là những đề tài ít được khai thác trước đây.
Nhưng, tiếc là một số bản thảo chưa hoàn chỉnh, cần hoàn thiện chuyên sâu, một số tác phầm chưa có nhiều đột phá mạnh về thi pháp, một số đề tài còn lặp lại, thiếu góc nhìn mới.
*
Trại sáng tác Nha Trang 2026 đã khép lại, nhưng những giá trị mà nó để lại là những trang viết mới, những kết nối chuyên môn, những bài học tổ chức, mong được phát huy trong thời gian tới.
B.M.V
Nguồn: Văn nghệ Đồng Nai số 98 (Tháng 4 năm 2026)