Thứ 6 - 26/02/2016
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây
Chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp và hướng đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV
Kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh (02/09/1945 - 02/09/2025)
“Rực rỡ sắc mai vàng, mừng Đảng, mừng Xuân, mừng Đất nước vươn cao tầm đổi mới; Thắm tươi màu cờ đỏ, chúc Đoàn, chúc Hội, chúc Đồng Nai nỗ lực để thành công" (Dương Thanh)
Luân hồi lá: tiếng gọi sâu thẳm từ cội nguồn

Tập thơ Luân hồi lá của Đàm Chu Văn (NXB Hội Nhà văn, 2024) là một biên niên sử thi bằng thơ, nơi từng phiến lá thời gian hóa thân thành ký ức sống động, thấm đẫm máu thịt của lịch sử và nghĩa tình con người. Không chỉ là thơ, mà còn là chứng từ. Không chỉ là cảm xúc, mà còn là minh triết, là đạo lý sống, là tiếng gọi âm vang từ cội nguồn.

Một bản hùng ca nhân bản

Ngay từ nhan đề Luân hồi lá, người đọc đã bước vào một vòng sinh mệnh: nơi chiếc lá không chỉ rụng xuống, mà còn tái sinh; nơi cái chết không là đoạn kết, mà là khởi điểm cho một mùa xanh khác. Đàm Chu Văn dựng nên một vũ trụ luân hồi: không tĩnh tại, mà chuyển động trong ký ức, lịch sử và những linh hồn bất tử.

Ở phần đầu - Lá trung quân, các bài thơ như Lời thề bên Bến Tượng, Ngày chị Sáu hi sinh, Chỉ còn một bước chân, Một người bạn Nhật, Biên giới Tây Nam… là những khúc tráng ca về những con người hiến thân cho lý tưởng cao cả. Thơ Đàm Chu Văn không gào thét, mà trầm mặc và trang trọng. Chất sử thi trong ông là ngọn lửa âm ỉ của lòng trung nghĩa, sự thủy chung son sắt.

Có khi, chỉ bằng một hình ảnh nhỏ, tác giả đã gợi cả bi kịch lịch sử và khí phách dân tộc: “Nếu Người không trở về bến sông này nữa/ những người lính đi đánh trận Bạch Đằng năm ấy/ có thể đã hết thảy hi sinh" (Lời thề bên Bến Tượng).


z6910028630140_e3bdb750c5f34e71a0643576d6961b3a_800_15082025161437.jpg
Tập thơ Luân hồi lá của nhà thơ Đàm Chu Văn (ảnh: ĐG)


Một dòng linh cảm tập thể

Trong Mười năm ở lại, không gian đất nước Campuchia hiện lên như miền đất ký thác máu xương của những người lính tình nguyện: “Tuổi trẻ các anh gửi lại nơi này/ Máu xương các anh gửi lại nơi này".

Đây không phải thứ thơ kể chuyện theo lối tuyến tính, mà là một “huyền thoại ký ức tập thể", đan cài cảm hứng sử thi và tự sự trữ tình. Những bài như Áo dài tìm Anh, Lời nguyền ở mũi Cà Mau, Cô giao liên ấy… đều mang tâm thức lịch sử - nhưng là lịch sử cảm bằng nhịp tim, không đóng khung trong giáo trình.

Ở đó, thơ Đàm Chu Văn trĩu nặng lòng biết ơn và nỗi tiếc nuối. Những nhân vật - dù là liệt sĩ, cô giao liên hay người thương binh - không chỉ là biểu tượng, mà là “chủ thể sống": “Bốn mươi năm qua anh chỉ nghe bằng ký ức" (Về một người thương binh).

Câu thơ khiến người đọc rùng mình, khi lịch sử không còn vang bằng kèn trống, mà bằng sự câm lặng của vết thương không khép miệng.

Vết thương lịch sử được chưng cất thành thơ

Chợ tình Sapa, chất liệu hiện sinh được đẩy đến tận cùng: “Họ đi tìm nhau/ tìm lại nỗi nuối tiếc của mình/ sự khao khát của mình/ như trót đánh rơi chén ngọc…"

Cuộc kiếm tìm không nhằm khôi phục hiện thực, mà gọi tên một bản thể đã mất. Đáng quý trong Luân hồi lá là tư tưởng đã được bốc cháy thành mỹ cảm nghệ thuật. Đàm Chu Văn không minh họa lịch sử, mà chưng cất nó thành hình tượng. Những bài thơ như Đêm trăng Đà Lạt, Cây thị của bà, Màu áo em… như khoảng thở dịu nhẹ, neo giữ tầng nghĩa thẳm sâu.

Khi ông viết: “Mồ côi lăn lóc dãi dầu/ Cắn răng mà sống, ngẩng đầu mà đi" (Cây thị của bà), thì đó không chỉ là số phận cô Tấm, mà còn là lời thắp lên cho cả một thế hệ, rằng lòng nhân hậu và nghị lực mới là điều dẫn dắt ta đi qua u tối, vô minh.

Một bản giao hưởng đa thanh

Giai điệu gốm mang đậm mỹ học biến hóa: “Lửa bao giờ cũng hai mươi tuổi/ Cháy hết mình/ Nghìn độ nóng luyện tôi/ Cho làn men hóa ngọc…"

Hình tượng ngọn lửa ẩn dụ cho lý tưởng, cho nhiệt huyết, cho sự sống phực lửa từ tàn tro.

Tập thơ chia làm hai phần: Lá trung quânNhư chừng xanh hơn phản ánh hai trạng thái: quá khứ và hiện tại, chiến tranh và đời thường, huỷ diệt và tái sinh. Phần hai với các bài như Ca cao nở dưới tán rừng, Uống rượu cần ở Tà Lài, Đêm nhài hương… mang đậm màu sắc bản địa, là một dạng thơ sinh thái, nơi cái đẹp là một biến thể của nỗi đau.

Tác giả không phân biệt thơ lớn - thơ nhỏ. Mỗi bài là một chiếc lá trong khu rừng ký ức, khiêm nhường mà đầy sức sống. Để rồi tất cả tụ hội vào khúc kết của luân hồi: “Thức dậy nào reo xuân!/ he hé tươi non luân hồi mắt lá" (Luân hồi lá).

Một trường ca lặng lẽ về thân phận và cội nguồn

Luân hồi lá phác dựng một hành trình: hành trình đi qua chiến tranh, mất mát, đứt gãy lịch sử, để đến với sự chữa lành và trở về cái gốc: với mẹ, với bà, với cây thị, với đất nước trong dáng hình cánh lá.

Mỗi chiếc lá rơi xuống, lại bắt đầu một mùa mới. Như thơ, từ nước mắt bung bật mầm xanh. “Luân hồi lá" là sự sống tiếp tục, trong lặng lẽ, nhưng bền bỉ. Như gió vờn trên sông. Như bóng mẹ khuất sau lưng. Như ký ức chưa từng ngủ yên.

Luân hồi lá cho thấy một cách viết thơ chiến tranh mà không cần viết về chiến tranh; một lối kể ký ức bằng độ lặng nhiều hơn là bằng hồi tưởng.

Đọc tập thơ này, ta không chỉ thấy quá khứ được gọi tên, được triệu hồi, mà còn thấy tương lai được kiến tạo bằng lòng tri ân và sự lây lan tiếp truyền của những điều tử tế.

HOÀNG ĐĂNG KHOA


Mời quý độc giả đọc chùm thơ trích từ tập “Luân hồi lá" được nhà thơ Hoàng Đăng Khoa chọn và giới thiệu.


Hương khói vẫn thơm bay

Hương khói vẫn thơm bay trong ngôi đền dân dã

dựng bằng thành kính niềm tin:

Hồ nhiên nhi thiên

Chí vọng thâm ân

Minh hoài hậu đức(*)

niềm tin nguyên sơ

niềm tin rất thực

Hồ Chí Minh vĩ đại Con Người

Chí Người cao thẳm

Ơn như trời biển

Đức Người sáng mãi muôn sau!

 

Giặc điên cuồng bom đạn, cùm gông

không ngăn được lòng dân yêu kính Bác

không khuất được triệu hồn bất khuất

xả thân vì Độc lập- Tự do- Cơm áo- Hoà bình

đất nước vẹn toàn, liền dải xa xanh

hoa thắm mỗi mái nhà hạnh phúc

 

Hồ nhiên nhi thiên

Chí vọng thâm ân

Minh hoài hậu đức

ngôi đền nhỏ đất Đồng Nai tạc niềm tin triệu khối óc, con tim nhân dân cả nước

cùng những bông súng trắng tự cánh đồng Long Thành, Nhơn Trạch lặng dâng hương…​

                                                                                                   

________________

(*) Ngày Bác mất (2-9-1969), trong vùng địch tạm chiếm, để che mắt địch, nhân dân xã Phú Hội, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai đã khôn khéo, sáng tạo lập bức hoành phi với ba hàng chữ “Hồ nhiên nhi thiên, Chí vọng thâm âu, Minh hoài hậu đức" trong ngôi đền của làng để bí mật thờ phụng Bác Hồ.

 

 20210716-094339-fJIfbvnB_800_15082025164433.jpg

Tác phẩm Đèo Lũng Lô của danh họa Tô Ngọc Vân (ảnh: ĐG sưu tầm)

 

Bên đèo Lũng Lô

                          Tưởng nhớ họa sĩ Tô Ngọc Vân

 

Người họa sĩ tài danh ngã xuống trong trận bom thù

máu ông đẫm bức tranh chưa kịp vẽ

những bức ký họa còn phác dở      

bộ đội, dân công, xe, pháo,..

cùng ông hành quân lên Điện Biên

xuyên rừng xuyên đêm          

vực thẳm, đèo cao, đá tai mèo, trơn lầy, muỗi, vắt,..

mưa rét xuyên lồng ngực

xối xả đạn bom thù

cả nước dồn chân đi

cái Đẹp nôn nao phía trước

những người đẹp từ trong những bức tranh thuở trước

đã cùng đi lên Điện Biên

 

Bảy mươi năm sau, đi qua đèo Lũng Lô

lại nhớ bức tranh ông để lại (*)

tác phẩm cuối cùng của ông góp vào chiến công vĩ đại

tài năng và lòng dũng cảm vươn cao.

                                          Điện Biên, 24/5/2024

__________

(*) Bức tranh Bên đèo Lũng Lô là c phẩm cuối cùng về chiến thắng Điện Biên Phủ của họa sĩ Tô Ngọc Vân để lại trước lúc hy sinh.

 

Cô giao liên ấy

                   Gửi T.N

 

Có thể em là cô gái ấy

Cũng có thể cô gái ấy là em

Rừng Miền Đông những năm bom đạn

Thoăn thoắt bước chân “con sóc nhỏ" dịu hiền

 

Con sóc nhỏ rời nhà đi kháng chiến

Bài tập ngày mai còn làm dở trên bàn

Áo dài trắng mẹ cất thầm ngăn tủ

Lọn tóc huyền gửi lại những vấn vương

 

Bao thương nhớ nén đáy bồng (*), khoảng vắng…

Những ồn ào đồng đội sẽ che đi

Mười bảy tuổi cuộn sức đầy con gái

Con gái hay kể chuyện rầm rì

 

Khăn rằn ấp cổ cao hơi ấm mẹ

Mẹ may khăn, mẹ lặng lẽ may bồng (*)

Tấm bà ba cũng từ tay mẹ cắt

Nước mắt người thấm mỗi sợi chỉ đan

 

Nước mắt người ấm nóng nhịp tim con

Nhịp tim nguyện đập theo sự sống còn Tổ quốc

Khi đất nước còn đen ngòm bóng giặc

Dòng sông ngăn giới tuyến hai bờ

 

Bom đạn giặc dội vào trang sách tuổi thơ

Nhát tà bạo chém ngang dòng lục bát

Ta sẽ đến nơi nào có giặc

Ta chưa về khi Tổ quốc chưa yên!(**)

 

Có thể cô gái ấy là em

Cũng có thể em là cô gái ấy

Bốn mươi năm - chuyện ngày xưa nhớ lại

Vẫn còn đây bóng dáng các Anh hùng!

                   Rừng Chiến khu Đ, tháng 5- 2021

______________

(*) Một loại túi vải giống như ba lô, để đựng quân tư trang, thường do gia đình may trang bị cho các chàng trai, cô gái Nam Bộ khi vào chiến khu tham gia kháng chiến chống Mỹ.

(**)Lời bài hát Việt Nam trên đường chúng ta đi, lời thơ Xuân Sách, nhạc Huy Du.


(Nguồn: Tạp chí Văn nghệ Quân đội tháng 8-2025)

Giới thiệu: Hoàng Đăng Khoa, Thơ: Đàm Chu Văn
Object reference not set to an instance of an object.

Liên kết webiste

Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai

 

Số lượt truy cập

Save Conflict. Your changes conflict with those made concurrently by another user. If you want your changes to be applied, click Back in your Web browser, refresh the page, and resubmit your changes.Trong ngày:
Tất cả:

HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT ĐỒNG NAI
Địa chỉ: 30 Đường Nguyễn Ái Quốc, P.Tân Tiến, Thành phố Biên Hoà, Đồng Nai
Điện thoại : 02513.822.992; Email: hvhnt@dongnai.gov.vn
Chịu trách nhiệm xuất bản: NSND. Đạo diễn Giang Mạnh Hà – Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai.
Trưởng Ban biên tập: Trần Thu Hằng​​