Minh họa: Lê Trí Dũng
- Con phải xuống núi thôi, Trần Trung!
Sư ông trìu mến nhìn người học trò giờ đã trưởng thành, cao lớn, vạm vỡ, tuấn tú, khôi ngô, thông minh dĩnh ngộ. Sư thầy nhớ lại ngày vị ni sư trụ trì mời ông đến để xem đứa bé trai mới sinh bị bỏ rơi trước cổng Am. Sư thầy đặt tên cho đứa bé là Trần Trung. Họ là nhà Trần, tên Trung để nhắc nhở là phải trung với Nước, với Dân. Nhờ sự chăm sóc của các ni sư và dân làng, đứa bé bị bỏ rơi lớn khỏe và khi Trần Trung lên tám, sư thầy mang về nuôi dạy, dày công truyền thụ võ công và binh pháp.
- Kính thầy, con vẫn nghĩ con phải ra giúp nước như thầy dạy, nhưng sợ con chưa đủ sức…
- Con xuống núi lần này, ta đã chuẩn bị cho con rồi. Con xin gặp Thống tướng, mang thư của ta cho Người. Những gì muốn nói, ta đã viết trong đó cho Thống tướng. Con không ở trong các cánh quân chủ lực của Thống tướng, mà giúp cho Người ở trận chiến khác, không kém phần gay go ác liệt. Ta tin với tài năng của con, con sẽ đảm đương được nhiệm vụ này.
- Kính thầy, sáng sớm mai con sẽ lên đường. Con không còn được chăm sóc cho thầy nữa, kính mong thầy giữ gìn sức khỏe.
Sư ông mỉm cười.
- Ta vẫn luôn theo dõi hành trình của con. Con hãy yên tâm!
***
Đọc lá thư của sư ông và nhìn chàng trai trẻ trước mặt, Thống tướng rạng rỡ, cất giọng:
- Ta không thể kịp thời cảm ơn sư ông, song ta cảm kích tấm lòng của sư ông đối với đất nước, người dân và ta. Sư ông đã chỉ ra cho ta thấy, ngoài việc đấu trí và chiến thắng kẻ thù ngoại xâm, cần phải cảnh giác trước mưu đồ phá hoại của bọn bán nước cầu vinh. Ta cũng đã để ý đến việc này rồi. Một số người nhân việc chiêu mộ quân tướng đánh giặc để mưu đồ lợi ích cá nhân. Nay nhờ cháu, chịu khó ở trong tối để nhìn thấy bọn phá hoại. Ta chỉ có lo lắng là để giữ bí mật cho cháu, ta không thể ra mặt bảo toàn cho cháu…
- Dạ, kính thưa Thống tướng, cháu được sư ông nuôi dưỡng, dạy dỗ thành người hôm nay, thì tấm thân này thuộc về nhà Trần, thuộc về nhân dân và đất nước, nên chỉ mong Thống tướng tin yêu giao việc, cháu quyết không phụ lòng sư ông và Thống tướng. Cháu chỉ xin phép được báo tin cho Thống tướng khi có việc xảy ra.
- Ta sẽ cho Tứ hiệp Yên tử hỗ trợ cháu.
- Dạ xin Thống tướng, cho cháu tự mình hành động. Tứ hiệp Yên tử phải bảo đảm an toàn cho Thống tướng, thầy cháu đã dặn như thế. Cháu sẽ liên lạc với Tứ hiệp khi có thông tin.
Chàng trai lui ra, Thống tướng vừa mừng vừa đăm chiêu. Đăm chiêu vì một số người do đam mê quyền lực nối giáo cho giặc, xem thường tính mạng người dân nhưng mừng rỡ khi đất nước xảy ra chiến tranh con dân nước Việt đều sẵn sàng xung trận, sẵn sàng vì non sông đất nước. Thống tướng thêm phần hứng khởi ngồi trước án thư viết lời kêu gọi tướng sĩ(1).
***
Đúng như Thống tướng đã nói: “Trông thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tổ phụ. Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa. Giả hiệu Vân Nam Vương để vét bạc vàng. Của kho có hạn, lòng tham khôn cùng"(2). Lúc bấy giờ, sứ giả Mông - Nguyên ngông cuồng, hống hách, không xem vua và quần thần nhà Trần ra gì, vì hắn thầm nghĩ: dù chúng bây có thuần phục gì, thì Đại Nguyên cũng đưa Trần Ích Tắc làm vua nước Việt và nước chúng bây chỉ là một quận của triều đình mà thôi. Nhiệm vụ của ta là chuẩn bị tập hợp lực lượng, nội công ngoại kích, chẳng mấy chốc, Đại Việt sẽ thành Giao Chỉ xưa kia thôi..!
***
Thống tướng cũng nhận tin báo, bọn gián điệp đã bị bắt. Âm mưu phá hoại của chúng đã bị đập tan. Nhưng có điều đáng lo là giặc sẽ không theo kế hoạch cũ nữa vì đã bại lộ. Mặt khác, tên sứ giả trở về tâu lên những điều xàm bậy, đổ dầu vào lửa đối với Hốt Tất Liệt. Làm tướng không ai muốn đất nước phải chịu cảnh đao binh, sinh linh đồ thán, đúng như lời Trần Khánh Dư(3) đã ghi lời tựa trong Vạn kiếp Tông bí truyền thư: “Người giỏi cầm quân thì không cần bày trận, người giỏi bày trận thì không cần phải đánh, người giỏi đánh thì không thua, người khéo thua thì không chết".
Phải đánh và đánh thắng giặc ngoại xâm. Đó là mệnh lệnh từ trái tim mà nhân dân Đại Việt đã giao phó cho ta. Vị Thống tướng suy nghĩ.
Giữa lúc đó, Trần Trung xin vào yết kiến.
- Nhiệm vụ của con đã hoàn thành. Con xin Thống tướng cho con được theo ngài để giết giặc bảo vệ non sông - Trần Trung cúi đầu thưa chuyện với Thống tướng về mong ước của mình.
- Ta thấy con tính như thế cũng đúng. Đây là lúc non sông Đại Việt cần những người như con ra sức bảo vệ xóm làng quê hương, bảo vệ sự bình yên của dân làng. Ta sẽ tiến cử con cho Phạm Ngũ Lão(4).
- Con biết ơn Thống tướng. Con sẽ lên đường ngay ạ.
Tiễn chàng trai trẻ, lòng Thống tướng dậy lên niềm vui sướng. Vì khi đất nước này lâm nguy, bất kể gái trai già trẻ đều cầm đao, kiếm, roi, cuốc, thuổng, tre già vuốt nhọn để ra trận. Có bao người đã ngã xuống trên mảnh đất này để giữ gìn từng tấc đất quê hương không rơi vào tay giặc. Khi thắng trận, họ cũng không đòi bổng lộc mà trở về với lũy tre làng “ngụ binh ư nông". Cũng như Trần Trung sẵn sàng đón nhận nhiệm vụ này qua nhiệm vụ khác và khi hoàn thành, xin về núi với sư thầy. Quý biết bao!
***
Tin cấp báo về cho vua Trần, đại quân Mông - Nguyên bắt đầu xâm lược nước ta…
Vua Trần hỏi ý Trần Quốc Tuấn về thế lực của giặc và ta đánh với giặc thế nào. Trần Quốc Tuấn liền thưa:
- Quân Nguyên tuy mạnh hơn ta, nhưng tự bên ấy sang bên này, đường sá xa xôi, muôn non nghìn nước, trải qua bao nhiêu vất vả mới đến được đây. Nếu ta văn võ đồng lòng, trên dưới hiệp sức, biết dùng mưu đặt mẹo mà đánh, thì chắc là phá được(5).
Vua tôi nhà Trần đều đồng lòng đánh giặc, các tướng cáo từ để về chuẩn bị.
Mùi binh lửa đã đến gần. Vị tướng già thầm nghĩ non sông xã tắc trông cả vào ông. Triều đình trông cả vào ông. Phải đánh thắng giặc thêm một lần nữa. Nhưng vị tướng đang cầm giữ vận mệnh non sông hiểu rằng, gánh nặng trên vai ông đâu chỉ là đánh thắng, mà phải thắng sao cho ít thiệt hại nhất. Dân nước vừa qua một cơn binh lửa, bao nhiêu nhà cửa còn chưa dựng lại, bao nhiêu ruộng vườn vẫn phải bỏ hoang...(6).
Đại quân Mông - Nguyên do thái tử Thoát Hoan chỉ huy bị thất bại lần đầu tại núi Kỳ Cấp, nhưng đón nhận tin vui là Ô Mã Nhi thắng trận ở ải Khả Li. A Bát Xích tập hậu đánh vào Lộc Châu giúp cho Trương Ngọc chiếm được Thành. Quân Đại Việt phải rút, Trần Quốc Tuấn phải cho lui quân về ải Chi Lăng. Thoát Hoan thừa thắng đánh vào Chi Lăng, đem súng đại bác bắn vào ải, làm cho doanh trại tan nát. Hưng Đạo Vương dẫn quân ra bến bãi Tân rồi dong thuyền rút quân về Vạn Kiếp.
Vua Trần Nhân Tông ngỏ ý muốn hàng. Trần Hưng Đạo thưa rằng: “Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng. Đầu tôi còn thì xã tắc cũng còn, xin bệ hạ đừng lo, tôi khắc có mẹo phá được giặc".
Tuy nhiên, quân Thoát Hoan sau khi lấy được ải Lạng Sơn liền tiến đánh Vạn Kiếp. Hai bên bày thủy trận. Quân Nguyên quá mạnh, Hưng Đạo Vương cho quân rút về hạ lưu sông Phú Lương. Thoát Hoan cho đóng quân tại bến Đông Bộ Đầu. Sau đó, Thoát Hoan lại tiến đánh ở Phú Lương. Hưng Đạo Vương rước xa giá Thượng Hoàng và vua ra ngoài thành Thăng Long chờ thời cơ phản công.
- Thưa thầy, con thuật lại có chỗ rời rạc, không đúng theo thứ tự thời gian và diễn biến, mong thầy tha lỗi…
Sư thầy khoát tay, giọng người rất vui:
- Không sao đâu, con. Hôm nay thái bình, lòng ta rất vui.
Trên đỉnh núi ấy, sáng sớm sương mù còn giăng đầy. Trần Trung và sư thầy ôn lại chuyện xưa. Nào là, những trận thua của Đại Việt, vua tôi nhà Trần phải chạy đến Thanh Hóa, rồi nhờ vào tài cầm quân của Hưng Đạo Vương thống lĩnh đại quân lại thắng trận ở cửa Hàm Tử, bến Chương Dương. Toa Đô phải bỏ mạng ở Tây Kết, Ô Mã Nhi bỏ chạy về Trung Nguyên. Quân Đại Việt tiến đánh Thoát Hoan. Thoát Hoan thua chạy về Vạn Kiếp, bị phục kích phải trốn vào ống đồng thoát về Quảng Châu.
Đuổi được giặc ngoại xâm, nhưng hỡi ôi, xương chất thành gò, máu chảy thành sông. Chiến tranh gây biết bao tang thương. Bất giác sư thầy thở dài:
- Trần Trung, thầy không biết con có định liệu gì không?
- Thưa thầy, quốc gia lâm nguy, thất phu hữu trách, nhưng sau khi giặc tan, nước yên, con xin thầy cho con lại về với thầy, vui với thiên nhiên, tu thân dưỡng tính.
- Con liệu vậy cũng được. Quan trọng nhất trên đời, tựu lại ở chữ Nhân. Không biết con có hiểu được ý thầy về Nhân không? Phải chăng, Nhân là đem lòng thành với nhau ra mà đối đãi; và Nhân là tự thân mình rèn luyện, tu dưỡng để trở thành con người; đối với đạo làm tướng, người trị vì thiên hạ, xem Nhân là con người, mà con người là vô giá nên chúng ta phải biết nuôi dưỡng, bảo vệ cho con người phát triển. Thầy và con “Hộ Quốc" cũng là để “An Dân".
- Con xin ghi tâm khắc cốt những lời thầy dạy.
- Thầy đã già rồi, chưa biết lúc nào sẽ ra đi. Mong con đem tinh thần “Hộ Quốc An Dân" giúp cho mọi người. Thầy nghĩ quân Mông - Nguyên đâu dễ gì bỏ đi dã tâm xâm chiếm nước ta.
***
- Thưa thầy, khi có giặc, con sẽ ra chiến trường, khi giặc tan, con lại về núi này.
Sư thầy im lặng, khuôn mặt sư giãn ra, đôi mắt nhìn ra xa xa. Non sông như một dải lụa gấm. Rừng cây xanh mát nhưng cũng là nơi hiểm trở đánh giặc. Những con sông hiền hòa, trong mát, cũng là nơi mồ chôn thuyền giặc trên Bạch Đằng Giang. Những cửa biển cho nhiều sản vật, là nơi giao thương kinh tế cũng là nơi thủy trận oanh liệt khác nào trận Xích Bích thời Tam Quốc. Sư thầy bất giác thở dài. Phải chăng vì nước ta “rừng vàng, biển bạc" mà các đời vua chúa phương Bắc dòm ngó, thôn tính, muốn đặt làm quận, phủ? Đất nước này, non sông này, bao đời con người sống hiền hòa, thủy chung, nhưng kiên quyết một lòng một dạ với tổ tiên, với tinh thần lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh, với tấm lòng kiên định không để bị đồng hóa khi bị đô hộ. Và một khi đất nước này, non sông này bị lâm nguy, già trẻ gái trai nhất tâm đồng lòng đứng lên bảo vệ quê hương, đánh đuổi ngoại xâm ra khỏi biên cương.
Đàn bồ câu bay vút lên bầu trời. Hòa bình đã tới…
N.S.H
_______________________
(1): Gọi là “Hịch tướng sĩ" hay “Dụ chư tỳ tướng hịch văn" (thời gian sáng tác khoảng năm 1284) trước cuộc chiến tranh chống Mông - Nguyên lần thứ hai.
(2): “Hịch tướng sĩ" hay “Dụ chư tỳ tướng hịch văn" (theo “Việt Nam thư quán").
(3): Trần Khánh Dư, Nhân Huệ Vương, nổi tiếng với trận tiêu diệt đoàn thuyền lương của quân Nguyên ở Vân Đồn.
(4): Phạm Ngũ Lão - võ tướng của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, sau được Hưng Đạo Vương nhận làm rể.
(5): Hưng Đạo Vương - Phan Kế Bính & Lê Văn Phúc, Nxb Kim Đồng, tr. 53
(6): Trần Khánh Dư - Lưu Minh Sơn, Nxb Văn học và Đông Á, tr. 198.
Nguồn: Văn nghệ Đồng Nai số 91 (Tháng 9 năm 2025)