Thứ 6 - 26/02/2016
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây
MỪNG ĐẤT NƯỚC ĐỔI MỚI, MỪNG ĐẢNG QUANG VINH, MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ 2026!
MÁ MƯỜI CỜ

má Mười Cờ - CÒm.jpg 

Minh họa: Còm

 Tiết học Lịch sử buổi chiều hôm ấy nặng nề như lớp bụi phủ trên bảng đen. Cô giáo đều giọng kể về những ngày Cách mạng tháng Tám rực lửa, về thời khắc dân tộc vùng lên giành chính quyền. Lũ bạn có đứa gục xuống bàn, đứa ngáp dài, nhưng trong tôi lại mở ra một khoảng trống lạ lùng. Giữa dòng chữ khô khan, bóng dáng cụ nội bỗng hiện về, rõ rệt như thể cụ đang ngồi bên cạnh, dáng gầy gò, tóc bạc lơ thơ và đôi mắt đăm đắm.

Cụ từng làm công nhân ở mỏ đá Bửu Long thời Pháp thuộc, ngày ngày nổ mìn, có khi chui rúc trong lòng đất, bụi đá phủ kín mặt, lưng áo đẫm mồ hôi, trên đầu là roi da, là ánh mắt lạnh lùng của mấy ông chủ mỏ người Pháp kèm theo tiếng quát tháo của đám cai người Việt hống hách. Nỗi cơ cực ấy tôi đã nghe cụ kể nhiều lần, nhưng mỗi lần nhớ lại vẫn thấy nghẹn ngào.

Cụ đã mất năm năm. Lúc ấy tôi chỉ là con bé lớp bảy, chưa đủ lớn để hiểu hết ý nghĩa những câu chuyện cụ kể. Giờ đây, đã là sinh viên Lịch sử, tôi nhận ra từng lời của cụ là một di sản. Mỗi khi nhắc đến Bửu Long quê tôi, cụ thường kể về bà Mười Cờ. “Nếu không có bà ấy, chưa chắc cờ đã kịp bay ở làng mình trong ngày khởi nghĩa." – Cụ nói. Tôi ngơ ngác hỏi:

- Cờ nào hả cụ?

- Lá cờ đỏ sao vàng chứ còn cờ nào nữa. Lá cờ đầu tiên của làng, do chính tay bà Mười Cờ may.

Câu nói ấy như một mũi kim lặng lẽ khâu vào trí nhớ, để rồi một ngày giữa tiết học, nó bật dậy, làm tôi rùng mình.

Tối đó, tôi kể lại với má. Má khẽ gật đầu:

- Ừ, bà Mười Cờ ngày xưa nổi tiếng lắm. Người dân vẫn thắp hương tưởng nhớ bà mỗi dịp lễ. Bà vốn tên là Huỳnh Thị Mười, nhưng vì gan góc, kiên trung, vận động người dân may cờ nên người ta gọi là Mười Cờ.

Tôi bỗng hình dung dáng bà mảnh mai, gương mặt rám nắng, đôi mắt to và sáng như ánh lửa luôn rực cháy bên trong. Ngày thường bà hay mặc chiếc áo bà ba giản dị, đôi tay khéo léo lúc thì cầm kim chỉ, lúc lại cầm cuốc xẻng.

Người ta kể, chồng bà làm phu trong mỏ đá Bửu Long. Một lần hầm sập, ông không bao giờ trở về nữa, bỏ lại vợ và người con gái nhỏ. Tin dữ đến, bà lặng người, ngồi chết trân trước hiên nhà.

Hàng xóm qua thăm, đặt tay lên vai bà, thì thầm:

- Ráng sống, chị Mười à…

Bà lau nước mắt, giọng khàn đặc:

- Tôi còn phải sống. Còn phải làm cho ông ấy, cho đứa nhỏ…

Từ đó, bà không gục ngã. Bà gom hết nỗi đau biến thành sức mạnh. Người ta thấy bà xuất hiện trong phong trào, hăng hái như một ngọn lửa. Với bà, đó là cách trả thù cho chồng, cho con, cho chính cuộc đời mình.

Lời má thôi thúc tôi tìm hiểu thêm. Qua lời cụ nội, tôi hình dung ra một người đàn bà nông dân lam lũ, quanh năm chân lấm tay bùn nhưng có đôi bàn tay khéo léo, kim chỉ tinh tường. Ngày thường bà ngồi chợ Tân Hiệp vá áo cho khách. Khi phong trào cách mạng dâng lên, bà chọn việc tưởng như nhỏ bé: may cờ đỏ sao vàng.

Không máy may, chỉ có cây kim nhỏ và ánh đèn dầu leo lét. Thế nhưng bà Mười Cờ không chịu dừng lại ở việc may cờ một mình. Bà đi khắp làng, gõ cửa từng nhà, vận động chị em phụ nữ cùng góp sức. Có người e ngại giặc tuần tra, bà kiên nhẫn thuyết phục: “Chỉ một mũi kim, một đường chỉ thôi cũng là góp cho cách mạng." Rồi bà còn lặn lội về tận thị xã Biên Hòa, tìm đến những gia đình có máy may, khẩn khoản nhờ giúp. Nghe chuyện, có người xúc động đến rưng rưng, dứt khoát không nhận một đồng công nào, coi đó là vinh dự được góp sức.

Trong căn nhà tranh lợp lá dừa tối om, bà vẫn cặm cụi bên tấm vải đỏ, từng đường kim nhỏ như dồn cả linh hồn vào. Ngoài kia, từng loạt súng vọng lại, chó sủa rộ lên, bước chân giặc rầm rập tuần tra. Con gái út co ro, mắt mở to sợ hãi:

- Má… ngoài kia người ta bắn nhau dữ lắm. Lỡ quân giặc lục đến thì sao?

Bà ngẩng lên, ánh mắt sáng lạ thường:

- Thì má chịu. Nhưng lá cờ này phải xong, để ngày dân mình vùng lên còn có cái mà giương cao.

Đôi tay gầy run lên khi mũi kim chạm da bật máu. Con gái hốt hoảng:

- Má ơi, tay má chảy máu rồi!

Bà cắn chặt môi, thì thầm:

- Máu này cũng là máu đất nước, thắm thêm lá cờ thì có sao đâu.

Một đêm, tiếng đập cửa dữ dội, giọng quát tháo vọng vào:

- Mở ra! Mở ngay!

Đèn vụt tắt, bóng tối đặc quánh. Bà giấu vội tấm cờ chưa xong xuống đống vải vụn. Cửa bị đá tung, lính giặc ào vào, trói ngoặt tay bà. Con gái òa khóc:

- Thả má tôi ra!

Tiếng khóc bị một cú hất làm nghẹn lại.

Trong ngục tối ẩm mốc, roi vun vút quất xuống. Tên chỉ huy dí súng vào thái dương bà, gằn giọng:

- Ai sai mày may cờ? Cờ giấu ở đâu?

Bà nhìn thẳng, giọng khàn nhưng rắn rỏi:

- Tôi chỉ vá áo cho con. Lá cờ nào cũng là để chúng biết quê hương có màu đỏ của đất, có ngôi sao để soi đường.

Một cú đấm như trời giáng, máu nơi khóe môi rỉ ra. Bà ngã khuỵu nhưng không kêu. Đêm ấy chúng đánh đến kiệt, rồi thả bà ra với lời đe dọa:

- Còn tái phạm, sẽ bắn bỏ!

Dân làng thì thầm: “Thả cọp về rừng." Quả nhiên, sau đó bà càng quyết liệt. Người góp tấm vải, người lén đưa cuộn chỉ, người đứng gác cho bà may. Bà thường bảo:

- Kim chỉ nhỏ thôi, nhưng nhiều mũi khâu cũng giữ được cả bầu trời.

Ngày lá cờ đầu tiên tung bay, cả làng lặng người. Nước mắt rơi xuống khi màu đỏ chói sáng trong gió, ngôi sao vàng rực rỡ. Ai cũng hiểu đó là khoảnh khắc đi vào lịch sử.

Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang, giặc Pháp trở lại, bom đạn trút xuống. Bà không chỉ may cờ mà còn vận động chị em đào hầm, giấu lương thực, đưa tin tức cho bộ đội ở chiến khu Đ. Có đêm về muộn, con gái bà lo lắng:

- Má ơi, lỡ má có mệnh hệ nào thì chúng con biết làm sao?

Bà vuốt tóc con, nghẹn giọng:

- Má nghĩ cho các con chứ. Nhưng nếu không đứng lên chống giặc, thì sau này các con cũng chẳng có quê hương để sống.

Đêm, đồn giặc ở quận Tân Uyên nổ tung, ánh lửa rực trời. Cả làng reo vang, còn bà Mười Cờ lặng lẽ lau nước mắt. Chiến thắng ấy, bà biết, có cả máu và mồ hôi của bao người phụ nữ.

Không lâu sau, bà lại bị giặc bắt. Trong ngục tối, roi vọt dồn dập, xương thịt nát rời. Mỗi lần ngất đi, bà lại thấy lá cờ tung bay giữa trời. Tỉnh lại, bà quệt máu phác lên vách tường những nét run rẩy. Một mảnh cờ đỏ rực hiện ra - niềm tin duy nhất còn lại.

Giặc chuyển từ tra tấn sang dụ dỗ: danh vọng, tiền bạc, quyền lực… Một thoáng, bà như đứng trước vực sâu, nhưng rồi sức mạnh từ đất trời, từ tiếng cha ông vọng về trong máu thịt khiến bà bật cười, tiếng cười khàn nhưng kiêu hãnh:

- Danh vọng của tao là nhìn thấy lá cờ tung bay. Tiền bạc tụi bây có nhiều đến mấy tao cũng không cần. Người Việt thà hi sinh tất cả chứ không chịu làm nô lệ!

Tiếng hô ấy dội ngược vào bức tường ẩm lạnh, khiến bàn tay tên lính khố đỏ run rẩy. Hắn nâng súng nhưng nòng súng chao đi, viên đạn chỉ rít lên rồi cắm phập vào bức tường, xé toạc một mảng, để lại vệt khói mờ nhòe. Gương mặt hắn tái mét, mồ hôi rịn trên thái dương. Trong đôi mắt hoảng loạn, dường như chính lương tâm đang níu giữ bàn tay tội lỗi. Nhưng ngay sau đó, phát súng khô khốc từ họng súng lạnh lùng của một tên lính Pháp phía sau đã kết thúc tất cả. Bà ngã xuống, nhẹ như chiếc lá lìa cành. Trên môi còn vương một nụ cười, trong ánh mắt vẫn bừng lên niềm tin bất khuất, như gửi lại cho đồng bào hi vọng vào ngày độc lập.

Cụ nội tôi thường rơi nước mắt mỗi lần nhắc đến bà:

- Bà ấy là ngọn cờ, cháu ạ. Ngọn cờ không ai có thể hạ được.

Nhiều năm sau, khi bước vào giảng đường, tôi chọn đề tài “Đấu tranh cách mạng của dân làng Bình Chước." Bài được điểm cao, nhưng tôi biết chẳng trang giấy nào có thể gói trọn khí phách của bà Mười Cờ - người phụ nữ tên thật là Huỳnh Thị Mười.

Một chiều thu, tôi trở về quê. Nghĩa trang liệt sĩ nằm lặng bên quả đồi. Gió heo may lùa qua hàng bạch đàn, lá xào xạc như những lời thì thầm. Tôi tìm đến mộ bà. Bia đá đã mờ, nhưng gương mặt trong di ảnh vẫn hiền hậu và kiên nghị. Tôi đặt tay lên phiến đá lạnh, lòng nhói lên:

- Bà ơi, giờ con đã hiểu vì sao dân làng gọi bà là Mười Cờ.

Con gái bà Mười Cờ ngày ấy đã chứng kiến tận mắt giặc trói má đi. Từ đó, cô sớm trưởng thành, thay má gánh việc nhà, rồi tham gia đội nữ du kích Bình Chước. Nhiều đêm cô cũng lén may cờ, tiếp nối công việc còn dang dở của má. Người dân gọi cô là “Mười nhỏ" để phân biệt, như một cách tôn vinh. Khi lớn lên, cô trở thành liên lạc viên, có lúc đóng vai người gánh hàng ra chợ Biên Hòa nhưng giấu thư từ, tài liệu trong đôi quang gánh. Tôi từng gặp bà ở chùa Bửu Hưng. Hỏi ra mới biết đó chính là con gái bà Mười Cờ. Dù tuổi đã cao, giọng bà vẫn rắn rỏi: “Má tôi mất đi, nhưng ngọn cờ má để lại thì tôi và con cháu phải giữ!", bà nói.

Ngoài kia, đồng lúa trải dài, đường bê tông phẳng lì, điện sáng từng nhà. Trên nóc nhà văn hóa, lá cờ đỏ sao vàng tung bay phần phật. Nước mắt nhòa đi, tôi nghe như có tiếng kim khẽ chạm vào vải, và tiếng bà thì thầm: “Cờ còn, làng nước còn".

Tôi hiểu, câu chuyện ấy sẽ còn theo mình suốt đời - như một ngọn lửa bất diệt.

Đ.S.Q
Nguồn: Văn nghệ Đồng Nai số 92 (Tháng 10 năm 2025)

ĐÁO SỸ QUANG
Object reference not set to an instance of an object.

Liên kết webiste

Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai

 

Số lượt truy cập

Save Conflict. Your changes conflict with those made concurrently by another user. If you want your changes to be applied, click Back in your Web browser, refresh the page, and resubmit your changes.Trong ngày:
Tất cả:

HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH ĐỒNG NAI
Địa chỉ: Số 30, Nguyễn Ái Quốc, phường Tam Hiệp, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại : 02513.822.992; Email: hvhnt@dongnai.gov.vn
Chịu trách nhiệm xuất bản: NSND. ĐD Giang Mạnh Hà - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai.
Trưởng Ban biên tập: Phạm Văn Hoàng - Phó Chủ tịch Thường trực Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai.