Minh họa: Kim Duẩn
Chiều tháng Tư.
Hơi nóng phủ lên quả đồi hầm hập.
Hố bom, hố pháo chằng chịt như những vết thương rỉ máu phủ trên mặt đất. Nơi từng là rừng xanh này giờ chỉ còn tiếng côn trùng rung lên não nề.
Trên cao, máy bay địch gầm rú như ác thú bị thương. Chúng thả pháo khói xuống các điểm nghi có Việt cộng, rồi phản lực lao tới dội bom. Mặt đất rung bần bật.
Hoàng hôn buông xuống càng làm khung cảnh thêm tang thương: những sườn đồi cháy đen, sắt thép nằm lẫn trong đất đá bị cày tung. Có nơi bom phá cả những ngôi mộ cũ, để lộ những hốc đất há miệng giữa tro tàn.
Tất cả bị nhuộm màu tử khí: đen, đỏ, nâu, vàng hòa vào nhau trong một bức tranh chết chóc. Người lính phải ép mình vào bóng tối mà thở. Thở thật khẽ. Cố né ánh mắt kẻ thù và né cả nỗi sợ đang rình rập trong lòng. Dẫu vậy, giữa tro tàn vẫn loé lên niềm tin mỏng manh: sự sống sẽ tìm cách trở lại.
Tôi, Tấn “Quảng Bình" và Tiểu đội trưởng Chạ trú trong hầm chốt số 6.
Hai giờ sáng, tôi đang say giấc thì Tiểu đội trưởng Chạ lay vai gọi:
- Dậy. Đi công tác.
Không kịp ngáp, tôi xỏ vội đôi dép, vớ lấy chiếc mũ tai bèo và khẩu AK rồi ra cửa hầm. Bụng nghĩ, lại đánh nhau đâu rồi? Lần trước đi công tác là chặn địch từ điểm cao 105 xuống đường nối với 367.
Một người lính ngồi đợi ở bên mé cửa hầm, khẩu AK khoác ngang ngực. Thấy tôi, anh hất đầu nói:
- Theo tao!
Tôi nghe rõ cái giọng khàn khàn đầy hách dịch, như thể anh ta đang sai một thằng nhóc mới vào nghề quét dọn thuê.
Thật lòng mà nói, cái kiểu nhìn người bằng nửa con mắt ấy cùng giọng nói và dáng điệu cũng đủ cho tôi biết đây không phải là lính mới. Tôi chửi thầm: mẹ thằng lính già. Tức lắm, nhưng tôi kìm lại. Dù sao anh ta cũng lớn tuổi hơn, có thể đã trải qua nhiều trận mạc.
Tôi đi theo anh ta. Đi như chạy trong đêm. Lên dốc, xuống dốc, quành bên này, vòng bên kia. Anh này chắc mắt cú nên đi đêm giỏi như vậy. Tôi nghĩ thế. Tôi như bị anh ta giật đi bằng một sợi dây thừng. Mỗi bước chân của anh ta phát ra âm thanh lạo xạo, còn thái độ thì lạnh tanh. Thỉnh thoảng, anh quay lại nhìn tôi, cái nhìn khó chịu đến mức tôi cảm giác như mình là tên tội phạm đang bị áp giải.
- Nhanh lên! - Vẫn cái giọng trịch thượng.
Tôi cắn răng.
Trong bóng đêm, tôi tự nhủ phải bình tĩnh mà chịu đựng. Theo sát sau lưng anh ta, tôi cố giữ nhịp thở. Nỗi sợ có đó, nhưng lớn hơn là phải chứng tỏ bản lĩnh của chính mình. Không phải trước kẻ thù ngoài kia, mà là trước một con người nghĩ rằng chỉ vì đi trước vài năm là có quyền quát nạt bất kì ai.
Càng đi, tôi càng thấy rõ cái dáng vẻ kiêu căng đáng ghét của anh ta, từ bước chân cho tới kiểu phì hơi qua hai lỗ mũi. Kiểu như thể tôi là gánh nặng. Nhưng lạ thay, trong tôi không hề có ý định lùi bước. Ngược lại, tôi thấy mình vững vàng hơn.
Dẫu giọng anh đầy gai góc, dẫu thái độ thô lỗ và khó ưa, nhưng tôi vẫn tự trấn an mình. Vì tôi hiểu: trên chiến trường này, không phải ai lớn tiếng cũng đáng sợ. Đáng sợ nhất là khi ta mất niềm tin vào bản thân.
Trời tối đến mức không nhìn rõ bàn tay. Không nhìn rõ đường quanh co. Gió rừng lùa hun hút. Tôi chỉ nghe tiếng thở của chính mình, chứ chẳng nhìn rõ mặt người lính già ấy - chỉ biết giọng Khu 4 khàn khàn, dứt khoát.
Tới một khu rừng nhỏ, anh ta ra lệnh:
- Dừng lại! - rồi chỉ tôi vào một căn hầm tối om - Kéo nó ra!
Tôi rùng mình, cảm giác bị đẩy vào hang cọp. “Kéo nó" là ai? Nhưng chiến trường có chỗ nào để thắc mắc. Tôi cúi người, chui vào hầm. Mùi ẩm của đất, mùi máu, mùi người trộn vào nhau khiến tôi nôn ọe.
- Ngậm miệng lại! Chết bây giờ!
Đúng lúc đó đạn pháo cầm canh của địch từ xa vèo qua đầu, kết thúc bằng tiếng nổ “ầm" phía Tây. Tôi bụng bảo dạ: “Mả cha chúng mày, làm ông giật mình! "
Tôi nghiến răng, cố nuốt ngược cơn buồn nôn. Muỗi trong hầm nổi loạn điên cuồng, táp tới tấp vào mặt tôi. Phải chịu. Tôi lần mò sâu hơn, quờ tay chạm vào một búi vải mềm mềm, thì hóa ra cái đầu người bị băng kín với một thân thể lạnh cứng. Ngoài kia người lính già lại rít âm thanh qua kẽ răng:
- Kéo nhanh ra!
Tôi nắm hai bàn tay lạnh ngắt ấy, kéo ra ngoài mà không nổi vì người này quá to, mà tôi thì quá mỏng manh. Anh lính già phải lao vào hỗ trợ. Vừa đưa được ra miệng hầm, anh lính già lại quát:
- Còn cái võng!
Tôi quay vào kéo nốt chiếc võng dù có đòn khiêng bằng gỗ, và cảm thấy mình như một người khiếm thị phân biệt các vật bằng xúc giác chứ không phải bằng đôi mắt.
Người lính già cúi xuống nhìn thoáng qua rồi bật nói, không chút cảm xúc:
- Chết mẹ nó rồi.
Tôi thấy đầu mình tối sầm, như đứng trên con thuyền thúng chao đảo trên sóng biển.
- Tiểu đoàn mình hả anh? - Tôi hỏi.
- Cộng hòa.
- Lính Cộng hòa mà sao mình phải đi cáng?
- Mình bị thương bên kia nó cũng cứu. Giết thằng khỏe chứ ai giết thằng sắp chết.
Người tôi run lên vì xúc động. Mà tôi cũng không còn nhớ, có hay không việc chỉ huy từng tư tưởng chính trị cho lính biết: phải cứu kẻ thù khi họ bị thương.
Anh lính già vội tháo hai tấm thẻ bài, một đeo ở cổ, một đeo ở chân xác người lính Cộng hòa, rồi lục các túi áo quần, nhưng không thấy gì. Anh liền giục:
- Về!
Tôi theo anh, lại đi như chạy, đầu óc rối bời. Thật là hú hồn.
Khi đi được gần một cây số thì trời bắt đầu sáng lờ nhờ, phải để lòng bàn tay gần sát mắt mới nhìn thấy các đường chỉ. Anh lính già ngồi xuống nghỉ, lôi tấm thẻ bài ra xem và lẩm bẩm đọc:
- Nguyễn Lẫm… Số quân 57… nhóm máu B…
Tôi tò mò, xin xem. Tấm thẻ bài bằng inox hình chữ nhật, bo bốn góc lạnh buốt, in chìm dòng chữ: Nguyễn Lẫm - SQ. 57/219… - NM: B.
Mỗi thẻ có một dây bi cũng bằng inox, luồn qua lỗ khoen ở góc, có thể tháo ra, lắp vào chỉ bằng một động tác đơn giản: đẩy nhẹ hạt bi ra, vào qua khe khóa. Tôi nghĩ, sao lính mình không có thẻ bài nhỉ?
Bất ngờ, anh đưa tôi một thẻ bài và giục:
- Mày quay lại, đeo vào tay nó đi.
- Sao lại phải thế hả anh?
- Để còn biết mà nhận ra lí lịch, không thì mộ tên thằng này, mà xác lại là thằng khác. Lính chuyên nghiệp lắm. Ghi cả nhóm máu để dễ dàng cấp cứu khi cần thiết.
Tôi toát mồ hôi, lo lắng. Đi chắc gì đã tới nơi khi con đường chưa thành hình, lại zích zắc, quanh co. Mà không đi thì không được với lão này. Cái mặt sần sùi, khó đăm đăm, đôi mắt sâu, lông mày cháy xém, mấy vết sẹo trên mặt. Thôi thì, chiến trường ác liệt này giữa lằn ranh sống - chết. Lực lượng địch quá hùng hậu, bầu trời như của chúng, pháo kích nhả đạn suốt ngày. Tôi vụt chạy đi. Nếu gặp địch sẽ chiến đấu tới viên đạn cuối cùng.
Vừa rời đi chừng ba chục mét, anh lính già hô: “Đợi tao! ". Tôi nhẹ cả người, bỗng hết đi lòng tức giận và lo lắng.
- Tao thử thôi, để mình mày đi chắc là đi luôn! Nhưng dù sao mày cũng thật xứng đáng là lính nơi chiến trường đỏ lửa!
Tôi rơi nước mắt.
Bây giờ tôi mới nhìn rõ người lính Cộng hòa nằm im, đầu quấn băng chỉ chừa hai lỗ mũi, bộ đồ rằn ri bó sát, chân đi giày bốt-đờ-sô. Anh ta không gầy gò như tôi.
- Lính dù đấy. Bị thương nặng, lính mình băng cho, rồi đưa vào đây, chưa kịp đưa ra tuyến sau.
Tôi hỏi:
- Sao anh không đeo nốt tấm còn lại?
- Giữ làm kỉ niệm chiến trường.
Anh kể cho tôi nghe về ý nghĩa của hai tấm thẻ bài mà lính Cộng hòa luôn mang: một để nhận dạng, một để báo tử. Tôi nghe mà cảm thấy gai đâm vào cột sống. Dù ở bên nào, cái chết cũng giống nhau: lạnh lẽo và im lặng.
Chúng tôi quay về, lại đi như chạy, nhưng theo đường khác. Gần tới khe suối nhỏ, cổ tôi khát khô. Tôi quỳ xuống, vục nước uống ừng ực. Bụng đầy nước vẫn cố uống thêm. Anh lính già cũng uống, rồi nhăn mặt:
- Mùi gì… tanh tanh thôi thối…
Chúng tôi đi men theo khe suối nhỏ để về chốt, liền thấy một xác lính của ta bị mắc ở bụi cây giữa dòng, đang rữa ra.
Anh lính già văng:
- Mẹ kiếp! Uống xác chết. Ở chiến trường này chẳng có gì lạ! Quân nó cũng thế thôi.
Tôi co rúm. Lần đầu tiên tôi thấy sợ nước hơn cả sợ bom đạn.
Anh lính già cùng tôi đưa thi thể lên bờ suối, đặt vào một khoảng đất bằng phẳng. Anh cúi sát lại, gạt những lá mục và cỏ rác còn dính trên ngực áo người chết. Rồi anh săm soi kĩ hơn: dùng hai ngón tay vuốt nhẹ gương mặt đã trương nước, kéo vành tai xem còn dấu hiệu quen thuộc nào, rồi khẽ cậy miệng tử sĩ như muốn chắc chắn lần cuối.
Bỗng anh nghẹn lại, đôi mắt mở to, rồi co hẹp lại đầy đau đớn. Anh hít mạnh một hơi, giọng bật ra như bị kéo từ đáy ngực:
- Ôi… Thằng Phúc A11. Thằng Phúc Thanh Hóa… Đúng rồi… Hôm đánh địch từ 127 tràn xuống… Ôi Phúc ơi! Mày còn bảo tao… hết chiến dịch này về quê uống rượu sim. Mà giờ mày bỏ tao …
Hai vai anh rung lên. Dù anh cố nén, tôi vẫn thấy rõ nỗi đau đang trào lên từ tận đáy lòng. Rồi anh tháo chiếc áo của mình, phủ lên mặt Phúc, rồi ngồi thụp xuống đất, thở dốc.
Nhìn anh lúc ấy, tôi không còn thấy vẻ thô ráp, cộc cằn như đã thấy ban sáng.
Người lính già mà tôi từng nghĩ chỉ biết quát tháo, chửi thề bỗng trở nên yếu mềm như một đứa trẻ.
Anh khẽ nâng cánh tay đã cứng đờ của Phúc lên, bàn tay to bè run rẩy, như thể chỉ cần mạnh hơn một chút cũng có thể làm đau thêm người đồng đội đã khuất.
Ánh mắt anh, ánh mắt từng trải qua biết bao trận mạc giờ lại long lanh, dịu lại đến nghẹn ngào. Đó không còn là cái nhìn của một người lính dày dạn bom đạn, mà là cái nhìn của một con người đã chứng kiến quá nhiều mất mát, đến mức trái tim chẳng còn chỗ nào lành lặn để tiếp tục chịu thêm một nỗi đau mới.
Khoảnh khắc ấy khiến tôi hiểu rằng, bên dưới lớp vỏ chai sạn của người lính trong chiến tranh, vẫn còn một phần người đã bị bóp nghẹt. Chỉ những cái chết như thế này mới có thể đánh thức.
- Về nhanh để báo cấp trên tới làm thủ tục chôn cất cho nó. - Anh lính già giục tôi.
Tôi dìu anh đi trên đoạn đường lắt léo để trở về hầm chốt. Anh tên gì, tôi chưa kịp hỏi.
*
Trận đánh ở điểm cao 127 vẫn còn ám ảnh cả trung đoàn. Đêm đó, địch nhảy dù xuống sườn núi, pháo bầy nổ vang liên hồi, đất đá bắn tung lên theo từng loạt đạn.
Chỉ trong hai giờ, gần một đại đội của ta đã hi sinh. Người ta kể về một chiến sĩ bám trụ đến giây phút cuối cùng: anh cố thủ bên bờ đất, đạn đã hết, chỉ còn quả lựu đạn trong tay. Khi địch áp sát, anh đợi ở khoảng cách sát thương mạnh nhất, tức thì cho lựu đạn nổ. Hai tên địch chết, mấy tên bị thương, còn anh ngã xuống.
Sau này tôi mới biết, người chiến sĩ quả cảm ấy chính là anh - người đêm đó đưa tôi đi cứu địch.
Thì ra, ý chí người lính đã trở thành thứ duy nhất mà kẻ thù dù có mạnh đến đâu cũng không thể khuất phục.
Anh tên gì, tôi vẫn chưa biết?
T.H
Nguồn: Văn nghệ Đồng Nai số 98 (Tháng 4 năm 2026)