Trụ cầu Mã Đà - nhân chứng còn lại với thời gian - Ảnh: Nguyễn Thắm
Cuối tuần, chúng tôi rủ nhau xuyên rừng Mã Đà, men theo con đường rừng sâu hun hút để tận mắt ngắm nhìn cây cầu Mã Đà cũ - một chứng nhân lặng lẽ của lịch sử, nơi từng vắt mình nối liền hai bờ thương nhớ của hai tỉnh Đồng Nai và Bình Phước (cũ). Trên đường đi, anh Nam bạn đồng hành của tôi bàn luận sôi nổi về những cái nhất ở Đồng Nai. Vốn dĩ Đồng Nai (trước đây) có diện tích rừng rộng lớn, được mệnh danh là lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ. Giờ đây, lá phổi xanh ấy lại được nối liền, được thở chung nhịp thở với những cánh rừng ngút ngàn Bình Phước, nên diện tích rừng của Đồng Nai đạt con số khoảng 35.000 ha. Cánh rừng rậm rạp là nơi chứa đựng biết bao sự huyền diệu của thiên nhiên, cùng với hệ sinh thái đa dạng: động vật quý hiếm lên đến 1.529 loài, thực vật có 1.615 loài… Anh Nam cười bảo: Bình Phước - Đồng Nai về chung một nhà, tuy gần nhưng mà xa. Mong cầu Mã Đà sớm hoàn thành để di chuyển được nhanh hơn.
Anh Nguyễn Văn Hùng - “thổ địa áo xanh" đón chúng tôi ở cầu Hiếu Liêm. Nụ cười nồng hậu trên khuôn mặt sạm đen vì mưa nắng của anh khiến chúng tôi cảm thấy yên tâm. Anh nhìn cả đoàn, ái ngại nói: “Vào rừng nguy hiểm lắm. Đi càng sâu con người càng phải đối mặt với những rủi ro, nhất là bị lạc đường". Chúng tôi bật cười. Chị Hoa, hiện công tác tại xã Trị An tự tin khẳng định chắc chắn sẽ không bị lạc, vì trên hành trình này chúng tôi không “đơn thương, độc mã" khi có một “thổ địa" như anh dẫn đường. Là người ăn ở rừng, ngủ với rừng, hiểu rừng nên anh Hùng đã trở thành hướng dẫn viên bất đắc dĩ cho bao đoàn khi muốn đến khám phá Cát Tiên.
Xe lăn bánh thêm ba mươi cây số nữa, bỏ lại phía sau những ồn ã thị thành. Chúng tôi xuống xe, chạm bước chân đầu tiên vào cõi thâm u rừng già. Rừng đón chúng tôi bằng cơn gió lạnh thổi thốc vào người khiến tôi cảm thấy rờn rợn sống lưng. Tôi cất tiếng cho bớt sợ: “Anh có biết vì sao ngày xưa ông bà ta lại gọi là Mã Đà sơn cước anh hùng tận không"? Anh Hùng ngoái đầu nhìn tôi, tay trái đưa lên bóp trán như lục lại ký ức, rồi kể: “Vùng đất này xưa kia là nơi ở của các bộ tộc người S'Tiêng và Châu Mạ. Thuở hoang sơ ấy, nơi đây được mệnh danh là cõi của rừng thiêng nước độc. Đã biết bao trai tráng trên con thuyền độc mộc ngược dòng sông Đồng Nai đến nơi này mang theo giấc mộng đổi đời, giàu sang. Nhưng rừng là nơi dễ vào khó ra. Những chàng trai trẻ đó đã mang theo tuổi xuân ngời ngời một đi không trở lại. Không biết họ đã lạc vào rừng sâu, bị hổ beo hay cá sấu ăn thịt mà không bóng một người trở về".
Mã Đà sơn cước là xứ sở của những loài cây cổ thụ không tên; là những cánh rừng trùng trùng điệp điệp; vùng đất thánh của các loài thú dữ như hà mã, cọp, beo, gấu, khỉ; là sào huyệt của những giống bò sát như trăn, rắn, thuồng luồng, cá sấu. Anh còn kể thêm câu chuyện mà anh khẳng định 100% là sự thật, được ghi chép lại. Thời Pháp thuộc, chủ đồn điền cao su người Pháp tên là Oderra. Hắn có rất nhiều vợ, nhưng trong đó có người vợ được cưng chiều nhất tên Chanh xinh như hoa hậu. Cô nàng nổi tiếng ham chơi, thích phiêu lưu mạo hiểm. Một buổi sáng trong xanh, cô Chanh ngồi thuyền dạo chơi trên dòng Rạch Đông (thuộc sông Đồng Nai), bất ngờ bị con cá sấu mũi đỏ nổi lên, nó dùng cái đuôi quẫy mạnh một cái, chiếc thuyền chao đảo, người đẹp bị rơi xuống, mất tăm. Quá căm phẫn, ông Oderra đã bắt bao trai tráng ngăn dòng Rạch Đông để lùng bắt bằng được con cá sấu ấy. Khi mổ bụng cá sấu, thấy nữ trang của vợ mình nằm gọn trong bụng nó, ông mới dám tin con cá sấu này đã nuốt chửng vợ mình". Anh Hùng kể trong tiếng gió xào xạc trên ngọn cây, trong mờ ảo ánh sáng xiên qua kẽ lá khiến cho không khí trở nên huyền bí lạ kỳ. Chúng tôi bất giác nép sát vào nhau bước đi thận trọng như sợ có một con thú hoang sẽ lao ra kéo chúng tôi đi bất cứ lúc nào.
Đi một lúc thật lâu với bao câu chuyện huyền thoại rừng già được anh Hùng kể, chúng tôi nghe tiếng suối chảy róc rách vọng lại nên đã đề nghị anh Hùng dẫn đến để có thể uống dòng nước mát, làm dịu đi cơn khát. Anh Hùng chậm rãi khuyên: Để anh kể chuyện này rồi tùy các em quyết định mình có nên uống nước ở con suối đó không nhé: “Uốn quanh khu rừng rậm là suối Mã Đà, con suối chia đôi thành hai dòng chảy, một dòng là suối Ràng, một dòng là suối Rạc. Ngày xưa, nước suối đỏ quạch phù sa pha thêm chút màu đỏ chảy ầm ầm như thác đổ. Thuở rừng còn hoang sơ, chưa có tác động từ con người, những cây mã tiền (một loài cây cực độc) mọc thành rừng trên đầu ngọn suối. Khi trái mã tiền chín đã rụng xuống suối, chất độc từ trái mã tiền tan vào nước, khiến dòng suối ấy trở thành dòng suối chết. Đó chính là dòng suối trước mặt mà các bạn đang muốn ghé thăm". Chúng tôi chợt co rúm sợ hãi. Thiên nhiên quả thật huyền bí và nhiều điều đáng sợ.
“Nhưng rừng cũng rất bao dung", anh Hùng chậm rãi nói. Chẳng phải trong những năm kháng chiến “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù" đó sao? Quả thật, trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, vùng đất này đã trở thành căn cứ địa cách mạng, là trung tâm kháng chiến, là nơi ra đời và phát triển của các lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ như Tiểu đoàn 800, Trung đoàn 762, Sư đoàn 9, Sư đoàn 5. Chiến khu Đ tồn tại như một biểu tượng của cuộc kháng chiến, tiêu biểu cho ý chí, sức mạnh tinh thần của dân Việt; là nguồn hy vọng, là niềm tin của toàn thể cán bộ, chiến sĩ và người dân trên địa bàn Đông Nam Bộ. Nơi đây, quân và dân ta vừa sản xuất, vừa gầy dựng cơ sở cách mạng trong các buôn sóc, trong đồng bào dân tộc, vừa đảm bảo nuôi dưỡng, bảo vệ cán bộ và cơ quan lãnh đạo, vừa chiến đấu. Chiến khu Đ đã làm tròn nhiệm vụ giữ vững và mở rộng địa bàn của mình trở thành nơi dưỡng quân, huấn luyện, nâng cao chất lượng bộ đội và du kích, đáp ứng nhu cầu kháng chiến của miền Đông Nam Bộ lúc bấy giờ.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, những trận đánh Đồng Xoài, La Ngà (Định Quán), đã góp phần tạo ra “bão" cách mạng, cùng nhân dân chia lửa với Điện Biên Phủ, giành thắng lợi “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, vùng đất này lại phải trải qua những năm tháng chiến tranh vô cùng ác liệt, hi sinh gian khổ không kể xiết, đã có nhiều trận đánh oanh liệt, làm nên những trang sử chói lọi. Ngoài sự kiên cường, bất khuất của lực lượng vũ trang, phải kể đến sự đóng góp của những cư dân bản địa đồng bào dân tộc S'Tiêng, Chơro, Châu Mạ… Với sự vận động của cách mạng, bà con từ các buôn làng đã tham gia hỗ trợ lương thực, như đồng bào Chơro, Châu Mạ ở Lý Lịch đã quyết định giao cả đồi Cả Chạng và kho lương cho cách mạng. Đồng bào dân tộc thiểu số ở các ấp Bù Nho, Phú Riềng đã cung cấp cả ngàn tấn gạo. Đồng bào dân tộc S'Tiêng ở sóc Bom Bo còn huy động lực lượng lớn để giã gạo. Và chính thời điểm đó, nhạc sĩ Xuân Hồng đã chứng kiến tinh thần hăng say lao động, sự miệt mài của đồng bào mà tức cảnh sinh tình sáng tác nên bài hát “Tiếng chày trên sóc Bom Bo" để diễn tả không khí giã gạo nuôi quân. Tôi chăm chú lắng nghe. Càng lắng nghe, tôi càng cảm thấy ngạc nhiên khi nhận ra: hoá ra Bình Phước và Đồng Nai trước kia không chỉ chung một biên niên sử mà còn chung cả dòng chảy văn hoá, mang trong mình một bản sắc đa thanh tuyệt vời, nơi văn hóa và lịch sử của đồng bào dân tộc thiểu số như những nốt nhạc cùng hòa quyện vào một khúc ca chung.
Những câu chuyện vui trên đường của anh Hùng khiến chúng tôi bớt lo lắng hơn và quên đi những mệt mỏi, cho đến khi dòng sông Mã Đà - nơi nối liền hai vùng đất Đồng Nai, Bình Phước - bất ngờ mở ra trước mắt chúng tôi. Trời đã đứng bóng, những tia nắng vàng rực rỡ xiên qua vòm lá cổ thụ, đổ thẳng xuống mặt sông. Dòng nước mùa này đục ngầu, chảy xiết, như đang mang theo lớp trầm tích của thời gian phủ lên đôi bờ thung lũng. Hai bên bờ có hai trụ cầu đá ong cùng những tấm sắt gỉ sét đứng sừng sững như những cột mốc thiêng liêng. Chúng không chỉ đứng kiêu hãnh qua bao mùa mưa nắng mà còn là chứng nhân trầm mặc chứng kiến những trận ném bom điên cuồng của kẻ thù trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc.
Tôi tiến sát hơn để ngắm trụ cầu còn sót lại, cảm nhận thời gian đã ngưng đọng trong lớp rêu phong mốc thếch phủ lên thân đá ong. Dưới chân trụ, cỏ dại mọc um tùm như che giấu những điều bí ẩn. Nhìn dòng sông lững lờ trôi, anh Hùng bảo: Ở phía thượng nguồn tỉnh Đắk Nông và Bình Phước (cũ) có nhiều con suối, sau này các con suối chảy về phía hạ nguồn tạo ra dòng sông Mã Đà. Dòng sông này đã chảy qua bao nhiêu cánh rừng thẳm sâu, như một sợi dây huyết mạch tưới tắm cho những nương rẫy bạt ngàn của Đồng Nai và Bình Phước. Phải chăng, chúng ta uống chung một dòng nước nguồn nên chẳng có gì lạ khi văn hóa, tập quán của bà con nơi đây lại cùng chung một nhịp đập thổn thức!
Đứng bờ bên này nhìn sang bên kia, chúng tôi không còn có cảm giác bị chia cắt, xa lạ nữa, mà tất cả đã được hòa quyện chung một dòng Mã Đà vừa êm dịu vừa hào hùng. Đồng Nai bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Với không gian rộng lớn, dân số đông đúc, cộng đồng dân tộc đa dạng, bản sắc văn hoá đa sắc màu... đã mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế, xã hội, kết nối hạ tầng giao thông quan trọng của miền Đông Nam Bộ trong tương lai. Cây cầu Mã Đà đã và đang được xây mới, khoảng cách địa lý được rút ngắn. Quan trọng hơn, cây cầu ấy thực sự nối lại những mạch ngầm văn hóa, lịch sử giữa hai vùng đất đã bị chiến tranh chia cắt một thời.
N.T
Nguồn: Văn nghệ Đồng Nai số 93 (Tháng 11 năm 2025)