Cái tít bài nghe có vẻ hơi sến súa này chợt đến trong cái đêm mưa mù trời, khi tôi nghỉ lại Đại đội Bộ binh 10 (C10) - đơn vị đứng chân trên địa bàn biên giới Bù Đốp, nay thuộc xã Thiện Hưng, tỉnh Đồng Nai. Nghề viết cho tôi đi nhiều và đã nhiều lần đi thực tế tại các đơn vị bộ đội, biên phòng. Nhiều đêm ngủ lại vùng biên giới, nhưng đây là lần đầu tôi ngủ lại ngay trên chiếc gường tầng của bộ đội và ăn, ngủ, dự sinh hoạt tư tưởng, văn nghệ buổi tối theo tiếng kẻng cùng bộ đội.
Ngày còn là học sinh, dẫu chưa từng được tới biên giới nhưng qua sách báo, phim ảnh và những vần thơ, bức họa, trong tâm trí tôi vẫn hiện lên hình ảnh bi tráng của biên cương Tổ quốc với núi rừng mịt mờ mây phủ. Là những đêm không trăng sao, những người lính trẻ vẫn luồn rừng lội suối, căng mắt phát hiện các biểu hiện nghi vấn trên những cung đường biên giới. Là ngày nắng cháy da hay đêm tuyết rơi tê cóng. Những chiều biên cương buồn vời vợi và xa cách nghìn trùng trong nỗi nhớ nhung của những người yêu nhau. Nhưng sức trẻ, niềm tin và lý tưởng đã chắp cánh để những người lính trẻ luyện rèn, hồn nhiên thích ứng với điều kiện sống khắc nghiệt. Họ bất chấp mọi gian nguy và luôn vững niềm tin, chắc tay súng bảo vệ từng tấc đất biên cương Tổ quốc. Bởi thế, biên ải xa xôi nhưng cũng thật gần gụi và luôn ấm nóng, thổn thức trong trái tim bao người.
Rồi cuộc sống đẩy đưa, đang sinh sống ổn định tại một đô thị hơn hai trăm năm tuổi ở phía Bắc, gia đình tôi lại dời vào Đồng Xoài (Bình Phước), nay thuộc tỉnh Đồng Nai - một tỉnh có tới hơn 259 km đường biên giới với Campuchia. Và như có mối duyên nợ, nghề báo đã cho tôi rất nhiều chuyến đi biên giới; đã chứng kiến những ngày nắng cháy thịt da, những đêm mưa sầm sập như đổ đá trên mái tôn khiến cho đường tuần tra của những người lính biên phòng thêm gian nan, vất vả.
Lần này đội hình lên biên giới không phải những phóng viên trẻ mà toàn những văn nghệ sỹ đã trên sáu mươi nhưng tâm hồn luôn tươi trẻ và khát khao khám phá, thâm nhập thực tế bởi đề tài về biên giới, hải đảo luôn có sức cuốn hút mạnh mẽ những người cầm bút. Sau buổi thực địa tới cột mốc số 65 cùng các chiến sỹ Đại đội Bộ binh 10, Đồn Biên phòng Thanh Hòa và chốt dân quân biên giới xã Thanh Hòa, chúng tôi trở về phòng nghỉ để tắm rửa, thay áo quần và chờ bữa cơm chiều. Mùa mưa biên giới, ngày dường như ngắn lại. Trong lúc chúng tôi được xả hơi sau một ngày đi thực địa thì những người lính trẻ Đại đội Bộ binh 10 vẫn mải miết với các bài tập rèn thể lực ngoài trời, mặc cho màn mưa giăng phủ. Bữa cơm chiều trong Nhà ăn Đại đội thật ngon lành, ấm áp không chỉ bởi nó đã cung cấp năng lượng cho chúng tôi sau một ngày di chuyển khá dài, mà còn bởi một vài món trong cơ cấu bữa ăn do chính bàn tay những người lính làm ra, là cá, thịt heo, gà, rau xanh các loại. Dẫu có khách, bữa cơm của cán bộ, chiến sỹ C10 vẫn diễn ra gọn lẹ. Và những người lính lại tiếp tục nhiệm vụ được phân công.
Dẫu chỉ ở độ tuổi mới lớn, nơi các em đang thay lớp cha anh để bảo vệ, gìn giữ là núi rừng, sông suối, là biên cương Tổ quốc. Mà núi rừng thì mù mịt, khôn cùng chứ không giống như trên giảng đường đại học hay sàn đấu thể thao. Ở nơi biên cương Tổ quốc, khi đã mang trên vai sứ mệnh cao cả là giữ yên bờ cõi; khi kẻ thù thoắt ẩn thoắt hiện nơi những con đường rừng heo hút hay bờ sông, khe suối âm u, hẳn các em phải nằm lòng câu khẩu hiệu: “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu". Điều này cũng lý giải vì sao chỉ sau một thời gian ngắn nhập ngũ, em nào cũng cao lớn và cường tráng hơn. Nhớ lại hình ảnh “khúc gỗ sống" tại Đại đội Trinh sát 75 (Tỉnh đội Bình Phước) trong một lần đơn vị tập luyện, tôi đã hỏi anh lính trẻ sau khi dùng than tổ ong trộn bùn non để tự biến mình thành khúc gỗ, rằng mỗi lần hóa trang để tập luyện như vậy, em có bị ngứa hay dị ứng gì không? Chàng trai bẽn lẽn cười, hàm răng trắng lóa trên gương mặt đen kịt than bùn nhỏn nhẻn trả lời, dạ không ạ! Em ngại nên không dám nói thật. Chà xát than, bùn lên toàn thân và nằm bất động nhiều giờ trong vườn cây, trong đống củi mà bất cứ lúc nào cũng có thể bị kiến, muỗi hay bọ cạp chích theo tình huống giả định, hỏi sao không bị ngứa!
Nơi núi rừng biên giới, màn đêm buông xuống nhanh hơn, đậm đặc và giá lạnh hơn. Đang cao điểm mùa mưa bão, cái lạnh và sự vắng vẻ của đêm mưa vùng biên khiến tôi không ngủ được. Dù đã quấn quanh người tấm vỏ chăn bộ đội và quàng thêm khăn áo, tôi vẫn thấy lạnh run. Nằm nghe mưa đổ ào ào trên mái tôn, chợt trong đầu vang lên giọng ca đầy day dứt của Lệ Quyên: “Mưa rừng ơi mưa rừng/ Hạt mưa nhớ ai mưa triền miên…". Chẳng hiểu sao cái cảm giác buồn thương chợt đến, dẫu tôi biết mình chỉ lưu lại nơi đây một, hai đêm thôi. Tôi bồn chồn tự nhủ, ở nơi biên cương xa xôi này, hẳn những chàng lính trẻ măng kia trong những đêm đầu cuộc đời quân ngũ cũng buồn, cũng nhớ nhà da diết, bởi trong lòng họ chắc chắn phải có một người bà, một người mẹ và có thể đã có một bóng hình con gái để nhớ, để thương. Suốt dọc miền biên ải dài gần 259 km với Campuchia này, trong những doanh trại hay những chốt kiểm soát biên giới, chắc hẳn các em đã phải trải qua những đêm dài như thế. Không ngủ vì báo động, tuần tra bất chợt. Không ngủ vì mưa dông, vì gió lật mái tôn, vì những kẻ buôn lậu xâm nhập biên giới trái phép. Và đôi lúc không thể ngủ chỉ vì tiếng động của những sinh vật săn mồi ban đêm… Tất cả những tác động từ bên ngoài ấy đều buộc các anh không thể mất cảnh giác khi rất có thể những kẻ tội phạm, xâm nhập trái phép, buôn lậu… đang rình rập đâu đó trong bóng đêm. Những cơn mưa vẫn tầm tã trút xuống suốt đêm. Và tôi biết ngoài kia, trên những con đường rừng trơn truội, những bờ sông khe suối hay những ngầm đá sắc nhọn, bước chân của những người lính biên phòng vẫn kiên trì bám trận địa, thay nhau tuần tra từng mét đường biên, cột mốc để suốt tuyến biên giới được bảo vệ vững chắc, người dân biên giới được yên bình.
Tôi trở mình và nhớ lại hình ảnh hồi chiều, khi những chàng lính trẻ vai khoác súng, lưng cõng ba lô, chân mang giày vải và trên vai chỉ là mảnh nilon hờ hững hành quân trong mưa. Mùa lũ, nước sông Măng dềnh lên ngập cột mốc nên những cuộc tuần tra, bảo vệ biên giới, cột mốc thêm vất vả. Nhưng bất kể nắng, mưa, những đôi chân rắn rỏi, tràn đầy sức thanh xuân của các chiến sỹ vẫn không ngơi nghỉ. Họ đi theo hàng một và sải bước dứt khoát trên đường tuần tra. Và cho dù giữa trời mưa trắng xóa, cho dù đội hình là ba lực lượng phối hợp: bộ đội, biên phòng, dân quân thì hàng ngũ vẫn đều tăm tắp. Cái sự tăm tắp hiện hữu ở cả đồng phục, ở tuổi tác và vóc hình, ở nước da rám nắng thao trường và những nụ cười tỏa sáng. Nhìn những đôi chân dầm trong nước lạnh bên cột mốc chủ quyền biên giới quốc gia, tôi hỏi một chiến sỹ:
- Các em được cấp mấy đôi giày?
Anh lính trẻ bẽn lẽn cười:
- Dạ hai đôi lận, nhưng mưa hoài nên ướt hết rồi cô ơi!
Nhìn các em trên đường hành quân, tôi bỗng nhớ hình ảnh bi tráng của những đoàn quân từ khắp các nẻo đường tập trung về phố huyện quê tôi, những đoàn quân nhấp nhô trên Quốc lộ 1A để vào tuyến lửa Vĩnh Linh trong một buổi chiều đỏ bầm như máu tứa năm nao. Rồi tôi lại hình dung từng đoàn xe như nêm trên những con đường mịt mù bụi đỏ, mang theo những đoàn quân tình nguyện sang giúp nhân dân nước bạn đánh đuổi bè lũ diệt chủng Pôn Pốt năm nào. Thời nào và ở đâu cũng thế, cho dù trong đội hình duyệt binh, trên đường tuần tra biên giới hay trên đường ra trận trống mái với quân thù, hình ảnh những đoàn quân luôn mặc định là một hình ảnh đẹp, sống động, là nguồn cảm hứng vô tận cho thi, ca, nhạc, họa, điện ảnh. Không gì đẹp và sống động bằng đội ngũ những chàng trai trẻ trong đồng phục chiến binh đều bước trên đường ra trận bảo vệ quê hương, đất nước. Không chỉ là kỷ luật sắt của quân đội mà chính là lý tưởng đã gắn kết họ. Một đám đông khác, như fan hâm mộ các nhóm nhạc Hàn Quốc hay hâm mộ bóng đá không thể nào toát lên vẻ đẹp ấy. Vẻ đẹp của một đoàn chiến binh hiện hữu ở sự ngời sáng trong đôi mắt, sự rạng rỡ trên gương mặt, ở những bước chân hăm hở, rầm rập sức thanh xuân. Nhìn các em, tôi chạnh lòng nghĩ tới những cậu ấm, cô chiêu cùng độ tuổi đang mải mê với những trò chơi nguy hiểm. Nếu không đua xe, vạ vật với những viên thuốc xanh đỏ ma ám nơi vũ trường, quán nhậu thì cũng chúi đầu vào các trò chơi độc hại và chẳng màng đến những gì đang diễn ra hằng ngày quanh mình.
Đêm dần khuya, mưa càng nặng hạt. Những cơn mưa tầm tã dội xuống mái tôn như thử thách lòng người. Nước từ các khe suối đổ về ầm ào như gào thét. Tôi kéo tấm chăn phủ lên mặt và cảm nhận rõ mùi trai tráng, mùi sự sống căng tràn của chủ nhân những tấm chăn mỏng mang màu xanh cây lá. Và không hiểu sao nhìn những người lính như măng như sữa trong quân phục xanh lá trên miền biên ải; nhìn những giọt mồ hôi lấm tấm trên những gương mặt hồng hào điển trai (mà sao lính biên phòng thường rất đẹp trai), tôi lại nghĩ đến những bà mẹ đang sống đâu đó trên mọi miền đất nước. Dù thời chiến hay thời bình, những người mẹ chiến sỹ luôn là những con người đáng kính và đáng trân quý nhất. Họ đã sinh ra những đứa con yêu dấu, đã dày công nuôi nấng, dạy dỗ và rồi dâng hiến những đứa con yêu cho Tổ quốc.
Trong cảm xúc dâng trào, tôi chợt nhớ tới những câu thơ day dứt, đầy sức gợi của nhà thơ Trần Đăng Khoa trong bài thơ Đỉnh núi: “Những mùa đi thăm thẳm/ Trong mung lung chiều tà/ Có bao chàng trai trẻ/ Cứ lặng thinh mà già". Quả thật không một sự tri ân nào lớn hơn, sâu đậm hơn thế. Ai đã từng bám trụ nơi rừng xanh núi đỏ, nơi góc bể chân trời, từng biền biệt xa quê hương, xa gia đình mới thấu hết sự thăm thẳm, dằng dặc của thời gian và không gian vùng biên ải. Nhưng với người lính, nhất là lính biên phòng, cho dù thời chiến hay thời bình, họ vẫn luôn sẵn sàng cống hiến, hy sinh. Và có sự hy sinh nào lớn hơn thế. Những người lính “cứ lặng thinh mà già" trong sứ mệnh bảo vệ sự bình yên cho dân tộc, cho non sông đất nước nên sự hy sinh ấy thiêng liêng, cao quý biết nhường nào!
L.T
Nguồn: Văn nghệ Đồng Nai số 92 (Tháng 10 năm 2025)