
Đám cưới chuột -Tranh dân gian Đông Hồ [www.tranhdangiandongho.vn]
Đề tài Tết trong tranh dân gian Việt Nam thông qua những hình ảnh quen thuộc trong tranh Tố nữ, Lý ngư vọng nguyệt, Gà đàn, Đám cưới chuột, Đàn lợn, Múa lân, Múa rồng đã thể hiện rõ ước vọng về một năm mới ấm no, sung túc, may mắn và hạnh phúc... Các bức tranh này thường được thể hiện qua các dòng tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống, Kim Hoàng và được trang trí trên tường vào dịp Tết, mang theo những giá trị văn hóa truyền thống. Có thể nói, loại hình nghệ thuật này là biểu tượng vừa gần gũi, vừa thiêng liêng, mang đậm chất nhân văn và bản sắc dân tộc, thể hiện văn hóa và tín ngưỡng dân gian của người Việt dịp Tết Nguyên đán, là truyền thống của dân tộc Việt Nam mỗi dịp Tết đến Xuân về từ ngàn đời xưa đến nay.
Tranh dân gian Việt Nam ra đời từ rất sớm, vào thời nhà Lý đã bắt đầu xuất hiện những gia đình khắc ván làm tranh. Đến thời Lê sơ, việc tiếp thu kỹ thuật từ tranh khắc ván in của Trung Quốc, có biến đổi để phù hợp với dân tộc Việt. Đến đời nhà Mạc cũng là giai đoạn tranh dân gian được ưa chuộng rộng rãi đến các tầng lớp trong xã hội. Công trình nghiên cứu về Imagerie populaire Vietnamienne tại Viện Viễn Đông Bác Cổ của tác giả Maurice Durand cho rằng: “Ở Việt Nam, hàng năm vào dịp Tết Nguyên Đán, tranh dân gian vẫn đứng hàng đầu trong giao dịch, trao đổi những ngày hội vui chơi truyền thống. Mặt khác, trong suốt năm, những hình ảnh tôn giáo và những hình ảnh chúc tụng vẫn được sản xuất theo yêu cầu của công chúng. Vào dịp Tết, những tranh khắc gỗ dân gian bán dọc đường, dán trên tường nhà, trưng bày ở những phòng thông tin, không hẳn đã là những tác phẩm nghệ thuật có giá trị lớn. Đó chỉ là những sản phẩm của hoạt động thủ công, làm theo kỹ thuật truyền từ đời nọ sang đời kia và theo một nguồn cảm hứng hầu như không thay đổi. Nhưng việc sản xuất lặp đi lặp lại và cố định, những đề tài được đề cập đã cho phép chúng ta rút ra những kết luận quan trọng về nền văn hóa truyền thống của người Việt....".
Cho đến thế kỷ XVIII - XIX nghề làm tranh đã lan truyền và phát triển ở nhiều nơi như, tranh Đông Hồ ở Bắc Ninh, tranh Hàng Trống ở Hà Nội, tranh Kim Hoàng ở Hà Tây, tranh làng Sình ở Huế và có sự khác biệt về kỹ thuật khắc ván in, kỹ thuật vẽ, nguyên liệu làm tranh, cách pha chế màu riêng của từng dòng tranh và đặc biệt là cách vẽ mẫu.

Ngũ hổ - Tranh Hàng Trống
Cách vẽ mẫu
Ngày xưa các nghệ nhân sáng tác tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ thường vẽ mẫu theo lối nhập tâm, vận dụng trí nhớ và tay nghề thuần thục để tạo nên những mẫu tranh như ý. Để có được khả năng vẽ theo lối nhập tâm thì đòi hỏi người vẽ mẫu phải quan sát thực tế, phải thuộc hình, phải thấu hiểu cả bên trong và bên ngoài đối tượng cần miêu tả. Theo lời kể của những nghệ nhân làng Hồ thì muốn vẽ nhân vật Sở Khanh trong truyện Kiều, người vẽ phải đọc kỹ những đoạn thơ nói về Sở Khanh, đồng thời người vẽ còn phải đi xem các phường chèo tuồng diễn về nhân vật này. Từ đó người vẽ mới hiểu được tính cách của nhân vật rồi ngẫm nghĩ để vẽ ra giấy, chủ yếu làm sao vẽ ra đúng bản chất con người của nhân vật Sở Khanh đã miêu tả trong truyện Kiều. Các nghệ nhân cũng chia sẻ khi vẽ hình phải gọn, nét phải rành mạch mà lại phải đủ. Người vẽ mẫu, trong khi vẽ phải nghĩ đến lúc khắc ván sao cho nét đẹp, nhưng lại dễ khắc để khi in ra không bị dính nét hay nhoè mực. Đó chính là lối vẽ “ước lệ" mà trong nghệ thuật tạo hình dân gian ta thường thấy, lối vẽ đó lấy “đơn tuyến bình đồ" làm nét vẽ diễn đạt chủ yếu trong tranh dân gian Việt Nam.
Cách in tranh
Trong các dòng tranh dân gian Việt Nam, tranh Đông Hồ là nghệ thuật in tranh thủ công, in bằng ván khắc, không dùng bút để vẽ hay tô màu như các dòng tranh khác, bức tranh hoàn thành là do sự ghép lại của các mảng màu in theo đúng trình tự nhất định. Cách in, đầu tiên người ta tải màu lên mâm màu hay còn gọi là palette, sau đó ấn ván khắc vào mâm màu để màu “ngậm" lên trên nét vẽ và bản khắc gỗ. Tiếp theo, khi in người ta dùng ván in đã ngậm màu ấn lên giấy điệp và mỗi lần in một màu, bao nhiêu màu thì bấy nhiêu bản khắc gỗ.
Trong khi đó, tranh Hàng Trống sử dụng kỹ thuật nửa in, nửa vẽ. Mỗi bức tranh chỉ có duy nhất một ván khắc, còn lại màu sắc hay các chi tiết trong tranh lại do bàn tay tài hoa của người nghệ nhân vẽ lên. Sau khi đã có được bản in hoàn chỉnh thì người vẽ tranh dùng bút lông chấm màu để tô lên từng mảng màu đậm nhạt, tùy theo nội dung và đường nét chủ đạo của tranh. Cách tô màu của tranh Hàng Trống cũng hết sức đặc biệt, một nửa ngọn bút chấm màu và nửa ngọn bút kia chấm nước, khi nét bút đặt xuống mặt giấy đã có hai sắc độ đậm nhạt khác nhau. Đó chính là kỹ thuật cản màu để tạo hiệu quả không gian trong tranh Hàng Trống.
Tranh dân gian Đông Hồ, Kim Hoàng ngoài những bản khắc nét, người xưa còn dùng đến các bản khắc màu, in theo lối chồng nhiều bản màu rồi cuối cùng in bản nét lên trên. Còn dòng tranh Hàng Trống, làng Sình thường chỉ in một lần với một bản khắc nét và sau khi in sẽ sử dụng kỹ thuật chấm màu, vẽ màu để hoàn chỉnh tranh.
Cách chọn nội dung đề tài
Các dòng tranh dân gian ra đời là để phục vụ nhu cầu về tôn giáo, do đó tranh thờ là đề tài chung mà các dòng tranh đều khai thác. Sau khi nhu cầu về tín ngưỡng được đáp ứng đầy đủ thì tùy theo sinh hoạt của từng vùng mà nghệ nhân vẽ các đề tài về sinh hoạt văn hóa - xã hội có tính chất địa phương, vùng miền. Như tranh Đông Hồ có “Đánh ghen", “Hứng dừa", “Đánh vật", “Rước trống"… là những đề tài phản ánh đời sống sinh hoạt của người dân ở các vùng quê; Trong khi đó tranh Hàng Trống có các đề tài sinh hoạt xã hội ca ngợi thuần phong Mỹ tục của dân tộc như “Múa rồng", “Múa lân"… và các đề tài sinh hoạt xã hội trong thời kỳ Hà Nội thuộc Pháp như “Duyệt binh", “Hội Tây"; Tranh Kim Hoàng kết hợp nét khắc ván thanh mảnh và bút pháp tô màu thủ công phóng khoáng nổi bật trên nền giấy hồng điều rực rỡ hay còn được gọi là “Tranh Đỏ". Dòng tranh này không chỉ dùng để trang trí nhà cửa dịp Tết mà còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, đặc biệt trong tín ngưỡng thờ cúng.
Mỗi dịp Tết đến, Xuân về, bên cạnh câu đối đỏ bao giờ người ta cũng treo những bức tranh Tết - một phần đặc sắc của dân tộc Việt. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu ý nghĩa của chúng. Một cái Tết cổ truyền đầy đủ không thể nào thiếu vắng tranh dân gian với những nét vẽ giản dị nhưng lại mang hàm ý sâu xa. Những hình ảnh được vẽ trên tranh rất đơn giản và thân thuộc như con lợn, con gà... Người ta mua tranh về treo trong những ngày đón xuân như mang về cho cả gia đình niềm hi vọng tốt đẹp và gửi gắm vào đó lời cầu chúc cho năm mới, khi thì là con cái chăm ngoan, khi thì là phúc lộc đủ đầy… Mỗi bức tranh không chỉ là sự kết hợp hài hòa của cách nhìn và quan niệm về thế giới, hiện lên như là biểu tượng của tinh hoa và kỹ thuật dân gian điêu luyện mà còn là sự tinh tế trong thẩm Mỹ, là những thông điệp và ước vọng nhân sinh. Những hình ảnh mang lại hạnh phúc thường là hình vẽ gà trống, cá, quả đào, con dơi; Những hình ảnh châm biếm như Đám cưới chuột, Thầy đồ Cóc… Mỗi hình ảnh trong số đó đều có nguồn gốc và ý nghĩa riêng. Hình ảnh Thầy đồ Cóc cũng để chế giễu những thầy đồ tầm thường và học trò của họ, chỉ biết “kêu" ồm ộp mà chẳng hiểu những gì mình đọc.

Em bé ôm chim phượng hoàng và hoa sen Tranh Kim Hoàng
Có thể nói, tranh dân gian Việt Nam phản ánh một cách trung thực và sinh động nhiều mặt của cuộc sống ngày xưa với những đề tài thật đa dạng và phong phú như: tranh chúc tụng, tranh sinh hoạt, tranh lịch sử, tranh thờ, tranh cảnh vật và tranh minh họa. Mỗi loại có hàng trăm bức; mỗi bức có một vẻ đẹp khác nhau về nội dung lẫn cách diễn đạt, tất cả tạo thành một nét riêng độc đáo mang tính dân tộc. Tranh dân gian còn lại đến ngày hôm nay phần lớn chứa đựng những yếu tố tích cực, nhiều nét thẩm mỹ phù hợp với trình độ, hoàn cảnh và tinh thần của người Việt Nam. Tranh Tết đối với người Việt Nam không chỉ có ý nghĩa vui vẻ mà còn thể hiện tư tưởng và nguyện vọng của người dân mong cầu hạnh phúc, thịnh vượng, bình an và nhộn nhịp của ngày Tết.
Nhìn chung, các dòng tranh có nội dung thường xoay quanh cuộc sống hằng ngày, lễ hội hay các giá trị đạo đức như tranh Múa lân, Rước rồng, Gà đàn, Đám cưới chuột, Em bé ôm chim phượng, Tranh ngũ hổ... Đặc điểm nổi bật của những bức tranh này là màu sắc tươi sáng, bắt mắt, sử dụng màu sắc từ thiên nhiên, tạo nên vẻ đẹp mộc mạc và gần gũi; bố cục tranh thường đơn giản, dễ nhìn, dễ hiểu nhưng hài hòa và tạo nên sự cuốn hút tự nhiên. Tranh dân gian Việt Nam thường giản dị, dễ hiểu, tập trung vào việc truyền tải ý nghĩa hơn là chi tiết, hình ảnh được cách điệu, mang tính biểu cảm mạnh mẽ. Hình thức đó chuyển tải nhiều nội dung chắt lọc từ cuộc sống hiện thực, từ những mơ ước của con người về hạnh phúc đầm ấm trong gia đình, sự bình yên qua cách tạo hình hồn nhiên trong sáng. Với giá trị nội dung và nghệ thuật mang đậm chất dân gian, diễn tả được cái hồn dân tộc, tranh dân gian Việt Nam có sức hấp dẫn đặc biệt và luôn giữ được bản sắc riêng.
Đ.M.N
Nguồn: Văn nghệ Đồng Nai số 95-96 (Tháng 01 & 02 năm 2026)