Đồng Nai có gần 40 dân tộc sống xen cài với nhau đa phần tại các
vùng nông thôn với kinh tế làm nông nghiệp là chủ yếu. Theo thống kê năm 2019 của
Ban Dân tộc tỉnh Đồng Nai, toàn tỉnh Đồng Nai có số dân trên 3 triệu người,
trong đó dân tộc thiểu số chiếm 6,42% dân số. Các dân tộc bản địa ở Đồng Nai như
Chơro, Mạ, X’tiêng và Cơ Ho sống lâu đời với bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo
tiêu biểu vùng miền Đông Nam Bộ. Trong số cộng đồng dân tộc thiểu số bản địa
đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, người Chơro được xem là dân tộc có số
lượng đông nhất, với 16.738 nhân khẩu(1). Người Chơro sinh sống nhiều
nhất ở huyện Xuân Lộc, huyện Định Quán, thành phố Long Khánh, huyện Thống Nhất
và huyện Vĩnh Cửu. Người Chơro có truyền thống phong tục, tập quán, tín ngưỡng,
văn hóa, văn nghệ… rất phong phú.
Những địa phương có nhiều người Chơro sinh sống tập trung đều đã
được tỉnh, huyện đầu tư xây dựng nhà văn hóa cộng đồng, như nhà văn hóa dân tộc
Chơro ở xã Túc Trưng huyện Định Quán, nhà văn hóa dân tộc Chơro ở xã Xuân Thiện
huyện Thống Nhất, nhà văn hóa dân tộc Chơro xã Xuân Phú ở huyện Xuân Lộc, nhà
văn hóa dân tộc Chơro ở xã Phước Bình huyện Long Thành, nhà văn hóa dân tộc
Chơro ở xã Phú Lý huyện Vĩnh Cửu… Nhà văn hóa dân tộc vừa để hội họp, vừa là
nơi lưu giữ các giá trị văn hóa vật chất, cũng là nơi diễn ra các nghi lễ của cộng
đồng. Tại các nhà truyền thống đều
được trang bị các dàn cồng chiêng để cộng đồng sử dụng trong mỗi dịp lễ hội,
cũng như để trình diễn cho du khách tham quan thưởng thức. Nhạc cụ cồng, chiêng
(chinh, goong) có giá trị di sản vô cùng đặc sắc, mà bất cứ du khách nào đã đến
với làng dân tộc đều muốn thưởng thức tiếng cồng chiêng ngân vang, cùng với những
vũ điệu dân dã do chính đồng bào biểu diễn.

Thi biểu diễn cồng chiêng Chơ ro năm 2018
Cồng chiêng là sản phẩm sáng tạo văn hóa của nhiều cộng đồng dân tộc
thiểu số ở Tây Nguyên và Đông Nam bộ. Năm 2005 tổ chức Giáo dục, Khoa học và
Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã công nhận “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” của các dân tộc Trường
Sơn Tây Nguyên là “Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại”. Nhạc cụ cồng
chiêng của người Chơro ở Đồng Nai cũng có những nét tương đồng với các dân tộc
Trường Sơn Tây Nguyên về hình dạng, tuy nhiên âm nhạc và trình diễn có khác
nhau. Cồng được người Chơro gọi chinh là loại có núm, chiêng gọi là goong loại
không núm. Một dàn cồng của người Chơro có 6 chiếc, còn dàn chiêng có 5 chiếc,
6 chiếc hoặc 7 chiếc. Trong bộ chiêng, chiêng mẹ hay còn gọi là chiêng cái là
chiếc quan trọng nhất. Cồng, chiêng đều được làm từ hợp kim đồng, có khi pha
vàng, bạc hoặc đồng đen tùy theo mục đích sử dụng. Nhạc cụ của người Chơro có
nhiều cỡ, đường kính từ 20cm đến 60cm, có loại lớn kích thước lớn đến 100cm. Cồng
chiêng có thể được dùng đơn lẻ hoặc dùng theo dàn. Người biểu diễn nhạc cụ cồng
chiêng có thể sử dụng bằng dùi hoặc nện bằng nắm tay.
Cồng chiêng không chỉ là một loại nhạc cụ giải
trí đơn thuần, mà có vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của đồng
bào thiểu số. Theo quan niệm của người dân tộc Chơro, cồng chiêng chính là ngôn
ngữ giao tiếp của con người với thế giới siêu nhiên trời đất, thần linh. Khi tiếng
cồng chiêng vang đó chính là phương tiện để kết nối giữa con người với thần
linh, mong cầu các Yang chứng giám và che chở, giúp đỡ mọi người trong cộng đồng
có cuộc sống mạnh khỏe và no đủ. Âm thanh cồng chiêng cũng là sợi dây gắn kết
tình cảm cộng đồng lại gần nhau hơn, khi vui lúc buồn, cứ có tiếng cồng chiêng
là cộng đồng tìm đến để chia sẻ, để chung vui. Trước đây, cồng chiêng thể hiện
sự giàu có của mỗi gia đình, gia đình nào có những bộ cồng chiêng lâu đời, chứng
tỏ gia đình đó kinh tế khá giả hoặc giàu có. Hiện nay, nhiều gia đình đồng bào
không còn lưu giữ được những bộ nhạc cụ cồng chiêng xưa.
Cồng chiêng gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của người
Chơro trong các sự kiện quan trọng của cá nhân và cộng đồng. Từ lúc đứa trẻ mới
chào đời, tiếng cồng chiêng vang lên chào đón thành viên mới, cho đến những buổi
gặp gỡ giữa nam và nữ, khi về nhà mới, cũng như khi tang lễ… đều không thể thiếu
vắng tiếng cồng chiêng. Vào các dịp lễ, tết hay hội hè, cồng chiêng lại được đồng
bào mang ra sử dụng, tạo nên không gian văn hóa đặc sắc. Hình ảnh cộng đồng nhảy
múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những ché rượu cần trong tiếng cồng chiêng ngân
vang giữa không gian đại ngàn. Chinh và goong còn gắn liền với các điệu múa của
đồng bào, trên nền nhạc cồng chiêng luôn giữ nhịp cho người múa với từng động
tác. Trong sinh hoạt cộng đồng, khi tiếng cồng chiêng vang lên cũng là lúc mọi
người cùng nắm tay nhảy múa giao lưu theo nhịp điệu lúc khoan thai, lúc dồn dập.
Các động tác thể hiện tuy đơn giản nhưng đều tượng trưng cho tư duy và hiện thực
trong đời sống văn hóa tinh thần độc đáo của tộc người.
Văn hóa cồng chiêng của người Chơro nói riêng và của các dân tộc
thiểu số nói chung luôn hấp dẫn đối với khách du lịch, âm vang cồng chiêng như
sợi dây kết nối du khách đến khám phá những giá trị văn hóa truyền thống của đồng
bào. Đến với đồng bào dân tộc Chơro vào mùa lễ hội, du khách có thể thưởng thức
say sưa lễ hội Sa Yang Bri (lễ cúng thần Rừng) được đồng bào tổ chức vào dịp
xuân về, cây rừng bắt đầu đâm chồi nảy lộc, khi mùa màng đã thu hoạch xong. Lễ
hội Sa Yang Va hay còn gọi lễ cúng Lúa mới, một trong những lễ hội đặc sắc của
đồng bào diễn ra vào tháng ba âm lịch hằng năm. Bà con làm lễ tạ ơn thần Lúa
sau một năm làm việc vất vả, thu hoạch thóc lúa về đầy kho.
Cồng chiêng không chỉ là tài sản văn hóa của tộc người thiểu số mà
còn phục vụ cho loại hình du lịch văn hóa dân tộc khá phổ biến hiện nay. Cồng
chiêng Chơro là nhạc cụ độc đáo trong âm nhạc truyền thống có sức hấp dẫn đặc
biệt đối với du khách, là nghệ thuật trình diễn độc đáo của đồng bào bản địa
Đông Nam bộ. Âm nhạc cồng chiêng dân tộc Chơro còn là di sản văn hóa phi vật thể
rất có giá trị, cần được bảo tồn và phát huy trong thế hệ trẻ. Những năm qua,
các địa phương đã đầu tư trang bị những bộ cồng chiêng cho các làng dân tộc
không còn cồng chiêng (hoặc còn rất ít), triển khai mở lớp tập huấn, truyền dạy
diễn tấu cồng chiêng cho thế hệ trẻ, thành lập các đội văn nghệ, thực hiện chế
độ đãi ngộ đối với các nghệ nhân cồng chiêng…
Việc kết hợp khai thác di sản cồng chiêng cùng các giá trị di sản
văn hóa truyền thống khác của người Chơro như: ẩm thực, trang phục, tập quán và
những tri thức dân gian khác, sẽ là một trải nghiệm tuyệt vời cho du khách, vừa
phát huy được giá trị di sản văn hóa truyền thống của dân tộc, vừa góp phần
nâng cao đời sống cho người dân địa phương.
NINH VUI
(Nguồn: VNĐN số 56 – tháng 10 năm 2022)