Lính ở chiến trường, nhất là các tổ đi công tác lẻ thường được hưởng những bữa cơm “Giải phóng", tức các bữa cơm “không tem phiếu, không thanh toán". Ăn xong chỉ bắt tay nhau mà đi. Cái bắt tay mặc nhiên thay cho mọi thủ tục rườm rà nhưng nhớ mãi.
Còn cánh lính hậu cần chúng tôi, đi công tác cũng tổ 3 người, mang theo trên lưng ba lô cùng bao gạo đủ ăn cho mỗi người ba ngày. Nhưng đi vài lần số gạo trên lưng bị “ế". Lý do: Trên những cung đường chúng tôi qua, thường gặp các trạm giao liên, hoặc được các đơn vị tăng gia.
Đi vài lần, biết tên nhau dẫn đến quen thân. Đãi nhau trà, thuốc là chuyện thường tình. Các “bác" ở những trạm này có “lộc" ra phết. Khách ở vùng sâu lên tặng trà củ măng, thuốc lá Casptan. Khách trên Miền xuống, tặng thuốc Samit, có khi có cả Điện Biên bao bạc. Những quà này từ sau Hiệp định Paris mới có.
Vì đã quen nên gặp chúng tôi khi thấy vắng mặt vài anh em cũ, các anh thường hỏi “thằng Minh đâu, thằng Hiệp đâu… đi cánh khác hả?". Thế rồi chúng tôi tự động xuống bếp lục nồi anh nuôi, kiếm cơm ăn như thể anh em trong đơn vị đi công tác mới về. Sau những trải nghiệm giản dị ấy, khái niệm về những bữa cơm “Giải phóng" không còn xa lạ nữa.
Một hôm, tổ của tôi đến một cứ tăng gia của Sư 7 sát mí Bàu Trư - Đồng Xoài. Anh Kiên trưởng Trạm, người Vĩnh Phúc, độ ngoài 40, bảo chúng tôi: “Thằng nào bắn giỏi, xách súng ra bàu bắn kiếm mớ cá tụi bay. Giờ này cá lóc đang nhô đầu thở đấy". Tôi với Chương người Nghệ An ra mé bàu, trèo lên cây đước ngồi chờ. Quả nhiên cá lóc nhô đầu thở khá nhiều. Hai thằng bắn một lúc được hơn 10 con. Có những viên chỉ bắn ở sát mí đầu con cá, nhưng do sức ép, cá vẫn cắm đầu xuống bùn, phất phơ cái đuôi cho bọn tôi nhìn rõ. Lấy dao thớt của anh Kiên, chúng tôi làm sạch cá, xong ướp với tương hột cùng ớt. Ớt ở vườn tăng gia thì vô vàn. Nồi cá đỏ xe ớt. Nhìn nồi cá, anh Kiên gật gù bảo: “Cho nắm lá chua vào thì hết biết". Chúng tôi hái lá chua, loại lá chua chân vịt ở vườn cho vào. Nồi cá nửa kho, nửa canh chua. Nhưng ai cũng khẳng định, chắc chắn sẽ rất ngon.
Nồi cá mới sôi được độ mươi phút, trạm có thêm vài tốp khách. Có anh em khen mùi cá kho thơm quá, hỏi: Chín chưa? Khách vùng sâu lên. Khách trên Miền xuống xúm lại cùng chung một bữa cơm tao ngộ, đậm đà. Cá không cần múc ra tô. Cơm nấu dư ở trạm lúc nào cũng sẵn. Chỉ vài phút, đáy nồi còn nước sôi nhẹ lạch xạch. Bữa cơm ở chiến trường chóng vánh, mau kết thúc để mỗi người đi mỗi ngả. Nhưng còn một nữ chiến sĩ Giải phóng hay dân chính gì đó, bưng chén cơm đứng sớ rớ vòng ngoài. Như đã hiểu, tôi giành lấy chén cơm từ tay cô chen vô… Lát sau trở ra, trao lại chén cơm có lát cá kho anh Kiên giành cho tôi. Tôi nói, chị dùng đi. Sao anh không ăn? Không sao đâu, anh Kiên còn để phần mà. Sau bữa cơm tao ngộ, cô Giải phóng chủ động hỏi tôi, anh tên chi? Giải phóng. Cả hai cùng cười. Còn chị? Tôi tên Thủy. Công tác tại M4 - phân khu Bà Rịa. Lúc đó, tôi có thể bịa ra một cái tên nào đấy. Nhưng bịa để làm gì. Tôi và Thủy còn đi. Biết có dịp nào gặp lại? “Giải phóng" là một tên chung dễ chấp nhận cho mọi sự quen biết trên đường ra trận.
Sau này, trong cuộc sống hòa bình có nhiều bữa cơm sang trọng và nghi lễ đãi đằng tôi được dự, nhưng tôi không sao quên được nắm lá chua, vị ớt hiểm, lát cá kho cùng với không khí của những bữa cơm đậm chất “giải phóng" như vậy.
L.Đ.K
Nguồn: Văn nghệ Đồng Nai số 95-96 (Tháng 01 & 02 năm 2026)