Thứ 6 - 26/02/2016
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây
MỪNG ĐẤT NƯỚC ĐỔI MỚI, MỪNG ĐẢNG QUANG VINH, MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ 2026!
ĐÔI BỜ SINH TỬ


Đôi bờ sinh tử.jpg 

Đôi bờ sinh tử - Nguyễn Một

Mỗi lần, ông ngoại đi núi, tôi theo ra tận bờ sông tiễn ông ngược dòng lên nguồn. Có lần ông nói với tôi: “Người quê mình muốn có mái nhà trước gió bão miền Trung, có khi phải đi đến nơi con sông không còn ai dám gọi là sông nữa con ạ". Câu nói ấy theo tôi suốt thời thơ ấu, như một thứ mật mã chỉ người trưởng thành mới có thể giải. Lúc nhỏ, tôi chỉ hình dung thượng nguồn là nơi nhiều cá, nhiều đá, hoặc nước chảy xiết. Mãi về sau, khi đứng trước những mất mát của đời mình, tôi mới hiểu: ông không chỉ nói về con nước, ông nói về số phận.

Ngày ấy, ông một mình ngược thượng nguồn Thu Bồn, nơi nước dựng đứng như một lưỡi dao và bọt trắng xé toạc mặt trời ban trưa. Trong làng luôn dành sự kính cẩn đối với những người đàn ông dám đối diện thác ghềnh. Ông không học chữ nhiều nhưng lại hiểu thứ ngôn ngữ thầm kín của nước: tiếng thở dài của những đoạn hiền hòa, tiếng nghiến răng thăm thẳm của những khúc cuộn xoáy và tiếng gọi định mệnh của những thác ghềnh mà chỉ những người chấp nhận đánh đổi mới dám bước vào.

Ông đi vào núi, năm này qua năm khác, mỗi chuyến đi như một lần bước qua đôi bờ sinh tử. Sau này, biết rằng ông chỉ chọn đứng về phía sự sống dù con đường đi ngang giữa cái chết.

Chiếc bè gỗ trôi giữa hai vách núi. Dòng thác trước mặt như con thú trắng đang nhe nanh. Chỉ cần trượt tay một chút, cả đời ông sẽ bị nuốt vào đáy nước không ai tìm thấy. Nhưng ông không run. Khi kể những chuyến chống bè về hạ lưu, ông khề khà nói: “Ở giữa hai bờ vực, nếu mình run tay thì nước sẽ không thương mình".

Dưới xuôi, bà ngoại đợi ông bằng nồi cơm nguội và mấy đứa cháu mồ côi nheo nhóc đợi bằng đôi mắt chưa hiểu nỗi đời. Để cho chúng có mái nhà, ông cắn răng vượt thác, đưa bè gỗ về, mùi gỗ mới thơm đến mức át cả tiếng thác gào.

Rồi ông đưa gỗ về thật. Ngôi nhà đầu tiên đứng lên trên nền đất gan gà quê tôi, cạnh khe Đá Lan, gỗ còn thơm mùi nhựa cây. Những xà nhà còn in dấu bùn rừng, như mang theo cả tiếng nước đại ngàn về trú ngụ. Ông đứng giữa sân, nhìn mái nhà thầm nghĩ lời thề đã hoàn tất.

Nhưng chiến tranh tràn đến.

Ngôi nhà cháy.

Khói còn chưa kịp tan, ông đã vác cưa, rựa lên rừng.

Ngôi nhà thứ hai dựng chưa kịp cũ. Đêm pháo chi khu An Hoà quăng qua, Ái Nghĩa quăng lại, ngọn lửa tàn bạo lại nuốt mất! Ông ôm chúng tôi, rồi lại cơm nắm, nhân mắm cái vác cưa, rựa lên rừng.

Ngôi nhà thứ ba, ông dời về cổng Số Năm, gần đồn lính, với hi vọng bình yên hơn. Nhưng rồi ngọn lửa trong trận chiến đêm bùng lên gần như xóa sạch mọi công sức của con người.  Đêm ấy, tôi còn nhớ rõ, chập tối lác đác súng nổ, lát sau thì rộ, hai bên đánh nhau, ông bà và chúng tôi nhúi nhụi chui xuống hầm. Chúng tôi núp chưa được mươi phút thì đạn bắn trúng nhà, lửa cháy phừng phừng. Bà tôi lao ra cửa hầm, ông níu lại, bà đập tay xuống đất gào lên:

- Con trâu với cặp heo chết thì tui cũng chết theo, ông thả tui ra tui tháo chuồng trâu!

Ông khựng chút quay lại bảo:

- Các cháu ngồi im nghen!

Nói xong ông lao ra, bà lao theo ông. Lúc đó trong ba đứa cháu mồ côi, tôi được bảy tuổi, lớn nhất.

 Ầm! ầm!!!

Pháo nổ lớn, tôi nghe tiếng thét đau đớn của bà. Cùng với tiếng thét, ông bà ngã trước cửa hầm máu me đầm đìa. Bên ngoài tiếng trâu rống, con Bỉnh sút chuồng chạy xồng xộc, lướt qua cửa hầm, tiếng heo kêu, đạn nổ, khói lửa mịt mù. Ông bà trườn vào trong hầm. Máu từ màng tang của ông tuôn lênh láng, bà bị nhẹ hơn nhưng máu cũng đầy mặt. Tôi vội cởi phăng áo mình đè lên vết thương của ông ngoại để cầm máu, giục các em làm như vậy với bà ngoại. Sáng ra bà con trong xóm chạy lại bỏ ông bà lên cái chõng tre ngoài sân. Đây là cái chõng ông tôi tự đóng, bỏ ngoài sân để nằm hóng mát nên không bị cháy. Ông Mân bảo mọi người bẻ bốn cái chân, cứ thế khiêng ông bà ngoại của tôi chạy vùn vụt vào bệnh viện dã chiến Tây Đức. Cậu tôi xoa đầu khen: “Nhờ con biết cầm máu nên cứu sống được ông bà!". Sau này nhớ lại, tôi không hiểu vì sao lúc ấy mình có thể làm được việc như vậy. Lúc đó tôi mới bảy tuổi, trong chiến tranh giữa lằn ranh sống chết, bản năng sinh tồn mạnh mẽ làm con người trở nên khôn hơn chăng?

Khi vừa qua cơn sinh tử từ bệnh viện Tây Đức về, ông lại đi, như thể cả cuộc đời ông chỉ sinh ra để nối những mái nhà chưa kịp bay hết mùi gỗ mới. Có lần ông kể chuyện vượt thác, giọng trầm như tiếng chèo khua vào dòng nước đêm: “Lúc đứng giữa hai bờ vực, chỉ nghe thác rít bên tai, người ta biết mình nhỏ đến mức nào. Nhưng cũng lúc ấy, mình biết rõ nhất cái điều mình không được phép bỏ cuộc".

Câu nói ấy không phải triết lý, mà là máu thịt. Là những gì ông đã sống, đã trả giá, đã bám vào để còn trở về.

Tôi lớn lên trong những câu chuyện đó. Không phải để ngợi ca gian khổ của ông, mà để hiểu rằng một mái nhà không chỉ làm bằng gỗ. Nó được dựng bằng sự can đảm, sự kiên trì, bằng lòng tin không chịu để số phận đẩy mình về đâu cũng được. Ông ngoại tôi nghèo vật chất, nhưng giàu một thứ mà cuộc đời ngày nay ít người còn có: sức bền của hi vọng. Đến ngày gia đình tôi bỏ xứ Quảng mà đi, ba lần nhà cháy chỉ còn lại khói trong ký ức. Nhưng trong mắt tôi, bóng dáng ông ngoại đứng trên bè gỗ, lọt thỏm giữa hai bờ sinh tử, vẫn không bao giờ phai. Như một tấm bia lặng lẽ khắc sâu vào tâm hồn.

Có lẽ vì trong cuộc đời, ai cũng có một khúc sông thượng nguồn của riêng mình để vượt, một đôi bờ sinh tử để biết mình can đảm đến đâu. Những lằn ranh đó không phải lúc nào cũng là nước xoáy hay vách đá. Có khi chỉ là một lựa chọn, một mất mát, một bước ngoặt tưởng bình thường nhưng lại quyết định cả đời. Mỗi lần đứng trước một ngã rẽ mịt mờ, tôi lại thấy ông ngoại với tấm lưng gầy mà vững chãi. Cây sào trong tay ông cắm vách đá, như một chiếc neo của định mệnh, như một cây cầu mảnh mai nhưng bền bỉ, nối đôi bờ tử sinh để con cháu bước tiếp. Ông đi rồi, nhưng tiếng nước Thu Bồn vẫn còn trong tôi, âm vang, dữ dội, và cũng đầy thương nhớ. Như chính cuộc đời ông. Như chính đôi bờ sinh tử mà mỗi chúng ta đều phải đi qua ít nhất một lần trong đời.

N.M

Nguồn: Văn nghệ Đồng Nai số 95-96 (Tháng 01 & 02 năm 2026)

NGUYỄN MỘT
Object reference not set to an instance of an object.

Liên kết webiste

Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai

 

Số lượt truy cập

Trong ngày:
Tất cả:

HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH ĐỒNG NAI
Địa chỉ: Số 30, Nguyễn Ái Quốc, phường Tam Hiệp, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại : 02513.822.992; Email: hvhnt@dongnai.gov.vn
Chịu trách nhiệm xuất bản: NSND. ĐD Giang Mạnh Hà - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai.
Trưởng Ban biên tập: Phạm Văn Hoàng - Phó Chủ tịch Thường trực Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai.