Thứ 6 - 26/02/2016
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây
MỪNG ĐẤT NƯỚC ĐỔI MỚI, MỪNG ĐẢNG QUANG VINH, MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ 2026!
HÌNH TƯỢNG CON NGỰA TRONG VĂN HOÁ DÂN GIAN VIỆT VÀ HOA

​ 4. Cúng Mã Đầu tướng quân và ngựa Xích Thố tại Chùa Ông (Cù Lao Phố).JPG

Cúng Mã Đầu tướng quân và ngựa Xích Thố tại Chùa Ông (Cù lao Phố) - Ảnh: Huyền Thơ 

Con ngựa là loài động vật tính năng mạnh mẽ, di chuyển nhanh nên được con người thuần hóa từ sớm và được sử dụng trong đời sống xã hội. Trong văn hóa dân gian, con ngựa là linh vật thờ trong đình làng, được ứng dụng vào đời sống văn hóa phi vật thể qua tín ngưỡng, văn học dân gian phổ biến của người Việt và người Hoa từ xưa đến nay.

Ngựa trong tín ngưỡng dân gian

- Thần Bạch Mã Thái Giám: Một trong những đối tượng thờ trong chánh điện đình làng Việt là Bạch Mã Thái Giám. Hình thức cụ thể là một đại tự chữ Hán. Bạch Mã Thái Giám (hay Thái Giám Bạch Mã) là một vị thần linh dân gian quan trọng, được thờ phụng phổ biến tại các đình, miếu ở miền Trung và Nam Bộ. Tín ngưỡng này xuất phát từ sự tích ngựa trắng, tượng trưng cho sự thuần khiết, thần thông quảng đại, được các vua triều Nguyễn sắc phong “Thượng đẳng thần" vì có công phò tá vua và phù hộ dân làng.

Bạch Mã Thái Giám có nguồn gốc từ Ấn Độ, thông qua văn hóa Chăm truyền vào Việt Nam, phản ánh hoạt động giao thương trên biển và được Việt hóa. Tại nhiều đình làng Việt ở Trung Bộ và Nam Bộ có khá nhiều sắc phong của triều Nguyễn cho thần Bạch Mã Thái Giám. Thần Bạch Mã Thái Giám được tin thờ để cầu xin làm ăn may mắn, che chở cho người dân vùng biển và được vua Minh Mạng ban danh hiệu “Lợi Vật chi thần" nghĩa là thần làm lợi cho muôn vật. Lễ vía Bạch Mã Thái Giám thường được tổ chức vào hai dịp xuân thu nhị kỳ tại các đình làng.

Bạch Mã Thái Giám thuộc bậc Thượng đẳng thần, về phẩm trật cao hơn Thành Hoàng, nhưng ở Nam Bộ lại quan niệm là vật cưỡi của thần Thành Hoàng. Có người còn phân biệt giữa Bạch Mã và Thái Giám khi cho rằng Bạch Mã thực hiện việc di chuyển, còn Thái Giám trông coi việc trong cung vua. Bạch Mã Thái Giám là những vị giúp việc cho thần Thành Hoàng. Đình Tân Lân (Biên Hòa, Đồng Nai) thờ Bạch Mã và Thái Giám riêng biệt ở hai bên tả hữu chánh điện.

Theo Lê Thế Vịnh và Phạm Hùng Thoan trong công trình “Văn hóa cư dân ven biển Phú Yên" có đề cập ở vùng Phú Yên, thần Bạch Mã Thái Giám được ngư dân xem là hiện thân của Phật Bà Quan Âm “vì thương người hóa thành con ngựa trắng để cứu giúp những người đi buôn, những người đánh bắt cá trên biển gặp nạn, như truyền thuyết Phật Bà hóa thành cá Voi".

- Linh vật Ngựa trong đình làng Việt: Trong khuôn viên tiền điện đình (đền thờ) người Việt, thường có bài trí tượng ngựa đứng màu trắng hoặc đỏ (hầu hết là ngựa màu trắng; ở đình Hữu Bằng, Hà Nội là ngựa gỗ nâu đỏ). Linh vật ngựa trong đình làng Việt, thường được gọi là "Ông Ngựa" được thờ phổ biến, tượng trưng cho sức mạnh, sự trung thành và phương tiện di chuyển của Thần, Thánh. Tượng ngựa gỗ, đá thường đặt hai bên sân đình (đặc biệt là ngựa trắng - Bạch Mã) với ý nghĩa trấn giữ, mang lại tài lộc, may mắn và sự phát triển. Biểu tượng Ngựa trắng (Bạch Mã) được tôn thờ cao quý, tượng trưng cho sự tinh khiết, trấn giữ các phương, tiêu biểu như đền Bạch Mã ở Hà Nội. Ngựa trong điêu khắc đình làng thường mang vẻ đẹp thuần hậu, thể hiện ước vọng yên bình, dung dị của người nông dân. Hình ảnh thường gặp là ngựa đứng, ngựa lồng, hoặc ngựa phi trong mây (vân mã) không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn là nét văn hóa đặc sắc trong đời sống tâm linh của người Việt.

- Mã Đầu Tướng quân và Xích Thố: Mã Đầu Tướng quân (người giữ ngựa) là nhân vật tín ngưỡng thường được thờ bên cạnh tượng Xích Thố (ngựa đỏ, chạy nhanh như thỏ) trong các đền, miếu thờ Quan Công của người Hoa. Xích Thố là con ngựa quý của Quan Công, linh vật này luôn được đặt trước gian tiền điện miếu thờ Quan Công. Mã Đầu Tướng quân thể hiện sự trung thành, phò trợ Quan Công và có công chăm sóc ngựa chiến. Những người tín sùng (cả người lớn và trẻ nhỏ) thường đến khấn trước Mã Đầu Tướng quân và sờ/vuốt đầu, bờm, lưng, đuôi ngựa, đặc biệt tục lệ chui qua bụng ngựa (nam 7 lần, nữ 9 lần) cầu mong mạnh khỏe, may mắn và học giỏi. Xích Thố của Quan Công luôn có màu đỏ mang ý nghĩa may mắn, tốt lành. Mã Đầu Tướng quân và ngựa Xích Thố là đặc điểm văn hóa tâm linh độc đáo, biểu tượng cho “chữ Tín" và sự vượt khó trong đời sống xã hội của người Hoa.

- “Xá mã, xá hạc" hay “cò bay ngựa chạy" cúng Ông Táo (23 tháng Chạp): Tục dùng ngựa và hạc (cò) làm vật cưỡi ở Nam Bộ bắt nguồn từ nghi thức “xá mã, xá hạc" theo nghi thức của Đạo giáo và Phật giáo (theo Huỳnh Ngọc Trảng và Nguyễn Đại Phúc trong “Đặc khảo về tín ngưỡng thờ Gia thần"). Người Việt và người Hoa thường có tục đốt ngựa và hạc giấy sau khi hoàn tất cúng tế. Người ta đặt những tờ sớ vào ngựa giấy và hạc giấy rồi đốt với ý nghĩa: hai linh vật ngựa và hạc sẽ đem những lời cầu cúng đến cõi Tam giới. Tương tự như vậy, ngày 23 Tết cúng Ông Táo, dân gian Trung Bộ và Nam Bộ thường có tục cúng bộ đồ mã “cò bay ngựa chạy" (khác với miền Bắc là cá chép) cùng với các bộ áo mão cho Ông Công, Ông Táo để làm phương tiện về trời báo cáo Ngọc Hoàng chuyện “bếp núc" của trần gian. Ông Táo Nam Bộ dùng ngựa đi dưới đất và dùng hạc (cò) bay lên trời rất linh hoạt trong nghi thức cúng tiễn Ông Táo vào mỗi dịp cuối năm chuẩn bị đón năm mới trong tín ngưỡng dân gian.

Ngựa trong văn học dân gian

Con ngựa không chỉ tồn tại trong tín ngưỡng dân gian mà còn được sử dụng trong kho tàng văn học dân gian qua ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt - Hoa; phản ánh sự gắn bó lâu đời, mang nhiều ý nghĩa về triết lý sống, tình cảm, tình yêu và ứng xử xã hội…

- Biểu hiện cho phẩm chất, năng lực

“Đường dài mới biết ngựa hay": thành ngữ nói lên sự kiên trì, phẩm chất tốt đẹp cần được mọi người rèn luyện chịu khó; phải trải qua thời gian người khác mới biết được ai là người tốt, làm hay, hiệu quả trong công việc. Tương tự “Ngựa hay chẳng quản đường dài, Nước kiệu mới biết tài trai anh hùng". Câu tục ngữ khẳng định giá trị thực của con người và sự vật chỉ được bộc lộ rõ ràng qua thử thách thời gian và công việc khó khăn. Tục ngữ khuyên răn con người không nên vội vàng đánh giá bề ngoài mà hãy nhìn vào kết quả lâu dài, sự kiên trì và bản lĩnh vượt qua khó khăn. Câu này thường được dùng để khích lệ tinh thần kiên trì, nỗ lực hết mình trong sự nghiệp và cuộc sống để đạt được thành công bền vững.

Thành ngữ “Ngựa non háu đá" với ý nghĩa nhắc nhở người trẻ tuổi thường hay tự mãn, ỷ vào sức mình kiêu ngạo, hung hăng, thiếu chín chắn. Hay “Ngựa quen đường cũ" chỉ thói quen khó bỏ, chứng nào tật nấy, một tính cách không tốt. Khi nói về tính cách thẳng thắn bộc trực, dân gian thường nói “Thẳng như ruột ngựa" đại diện cho phẩm chất con người, tính tình thẳng thắn, rõ ràng, đáng tin cậy. Dân gian Việt Nam cũng có câu thành ngữ “Cưỡi ngựa xem hoa" để nhắc nhở một cá nhân làm việc không hết mình, không chịu khó, không kiên trì. Điều này phản ánh sự làm việc qua loa, không cẩn thận, không chu đáo, không dốc hết sức mình, một hạn chế cần được khắc phục.

- Thể hiện tình cảm, tình yêu đôi lứa

 “Thanh mai trúc mã" thành ngữ phổ biến trong văn hóa Hoa, chỉ đôi bạn thân thiết từ thuở nhỏ, lớn lên cùng nhau, có mối quan hệ hồn nhiên, thắm thiết, cũng có thể phát triển thành tình yêu khi trưởng thành. Thành ngữ này bắt nguồn từ bài thơ của Lý Bạch miêu tả cảnh bé trai và bé gái chơi đùa với “con ngựa trúc" (món đồ chơi trẻ con làm bằng tre) và “trái mơ xanh".

“Anh đi đâu giục ngựa, buông cương;

Mải mê con mèo mới mà quên vợ thương ở nhà"

Hoặc:

Anh đi như ngựa buông cương;

Ai ngăn cản được anh đương chạy dài".

Thể hiện sự quyết tâm, tự do và thái độ kiên quyết không gì ngăn cản được của người đàn ông khi đã theo đuổi mục tiêu hoặc một tình yêu. Những câu ca dao này cũng muốn nói về tình trạng người chồng thay đổi hay ngoại tình, không còn quan tâm đến vợ.

“Ngựa buông cương về đường ngựa buông,

Ai thương người thương nhớ thì thương".

Thể hiện sự tự do, tôn trọng cảm xúc tự nhiên trong tình yêu đôi lứa, đây là sự tôn trọng, không ràng buộc, ép buộc đối phương. Câu ca dao thường được dùng trong các bài giao duyên, thể hiện thái độ thoáng đạt, cởi mở hoặc sự dứt khoát trong tình yêu. Nếu yêu thương thật lòng thì hãy đến với nhau, tình yêu đến từ sự tự nguyện, không gượng ép; có duyên thì hợp, không còn thì đi.

- Thể hiện triết lý sống, quan hệ xã hội

“Mã đáo thành công" là câu thành ngữ khá phổ biến, mang ý nghĩa chúc tụng điều may mắn, thuận lợi, phát đạt và thành công. Hình ảnh phổ biến nhất là bức tranh Bát mã (8 con ngựa khỏe khoắn) phi nước đại, thể hiện sức mạnh, sự đoàn kết và tài lộc dồi dào. Thành ngữ này ứng dụng trong dịp khai trương, tân gia, chúc Tết hay tặng người làm ăn xa, biểu trưng cho sự thắng lợi.

“Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã": thành ngữ nói về một thực trạng hay một thói quen, một tính cách xấu hoặc tốt của những cá nhân hay những nhóm đối lập tốt và xấu (thường là xấu). Trong dân gian thường quy nạp những người có tính cách giống nhau hay kết bạn, chơi chung với nhau, hành xử (tiêu cực) giống nhau.

“Tái Ông thất mã" câu chuyện Trung Hoa nói về sự chuyển hóa âm dương, trong phúc có họa, trong họa có phúc, phúc họa khó lường trong cuộc sống, giúp chúng ta sẵn sàng chấp nhận những thay đổi rủi ro khi xảy đến.

Thời gian ngựa chạy, tên bay; Hết trưa lại tối, hết ngày lại đêm. Đông qua Xuân lại đến liền; Hè về rực rỡ, êm đềm Thu sang". Khi sử dụng ca dao có câu “Thời gian ngựa chạy tên bay" nhằm ví von sự trôi qua vô cùng nhanh chóng và không thể đảo ngược của thời gian, tương tự như tốc độ của con ngựa đang phi nước đại hay mũi tên vừa bắn ra. Nó nhắc nhở con người phải biết trân trọng thời gian, sống trọn vẹn và không lãng phí từng khoảnh khắc. Bởi vậy, ta nên sống tích cực, làm việc chuyên tâm, không chơi bời, lêu lổng, trân trọng tuổi trẻ, lúc còn khỏe, có cơ hội và các giá trị cuộc sống. 

“Ngựa ô chẳng cưỡi, chẳng bò; Đường ngay không chạy, chạy dò đường quanh". Câu ca dao dân gian mô tả hình ảnh con sông hoặc dòng sông, "ngựa ô" chỉ màu đen của nước sông (dòng sông), nên không thể cưỡi, nó chảy uốn lượn, khúc khuỷu, quanh co và không thể chảy theo một đường thẳng. Chỉ những người không đi theo con đường chính đạo mà lại vòng vo, mất thời gian…

“Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy" là câu thành ngữ Hán Việt (Một lời nói ra, bốn con ngựa theo không kịp) mang ý nghĩa lời nói đã thốt ra thì khó lòng rút lại được, nhấn mạnh sự cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói. Một khi lời nói đã phát ra, dù tốt hay xấu, nó sẽ lan đi và gây ra hậu quả, ta không thể lấy lại được.

“Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ" nói lên sự đoàn kết, gắn bó của một tập thể, một cộng đồng; khi một cá nhân hay một thành viên gặp bất hạnh, bệnh tật hay hoạn nạn thì cả tập thể, cộng đồng cũng thấy buồn, cảm thấy từng cá nhân như bị chính họ bị rủi ro hoặc không may mắn. Thể hiện tâm trạng đồng cảm sẵn sàng chia sẻ hoạn nạn của một tập thể.

Tóm lại, hình tượng con ngựa trong văn hóa dân gian Việt Nam rất đa dạng, con ngựa không chỉ là con vật kéo, thồ, cưỡi, di chuyển, phương tiện chiến đấu (truyền thuyết Thánh Gióng) mà còn liên quan đến đời sống tâm linh, không gian thờ phượng, là hình thức vật thể của nghi lễ, trang trí, cầu cúng... Trong văn học dân gian thể hiện qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao thể hiện tình cảm, triết lý sống và quan hệ đời sống xã hội rất sâu sắc của văn hóa dân gian người Việt và người Hoa. 

 H.T

Nguồn: Văn nghệ Đồng Nai số 95-96 (Tháng 01 & 02 năm 2026)


HUYỀN THƠ
Object reference not set to an instance of an object.

Liên kết webiste

Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai

 

Số lượt truy cập

Trong ngày:
Tất cả:

HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH ĐỒNG NAI
Địa chỉ: Số 30, Nguyễn Ái Quốc, phường Tam Hiệp, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại : 02513.822.992; Email: hvhnt@dongnai.gov.vn
Chịu trách nhiệm xuất bản: NSND. ĐD Giang Mạnh Hà - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai.
Trưởng Ban biên tập: Phạm Văn Hoàng - Phó Chủ tịch Thường trực Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai.