Nghệ thuật cải lương là sân khấu kịch hát. Kịch là câu chuyện có tính kịch được đặt lên hàng đầu, nhưng trong thực tế, đối với những diễn viên nổi danh, được công chúng yêu thích thì ca bài Vọng cổ hay cũng là yếu tố quan trọng tạo nên sự hâm mộ.
Sân khấu cải lương đã trải qua thực tiễn hai giai đoạn thử nghiệm với những khuynh hướng nghệ thuật khác nhau. Cải lương ở miền Bắc trước và sau đổi mới có xu hướng chú trọng nghệ thuật diễn, lấy diễn xuất cá nhân, diễn xuất tập thể để khẳng định đặc trưng sân khấu kịch hát, trong đó kịch được đặt lên hàng thứ nhất, còn hát đứng hàng thứ hai. Nhưng công chúng mộ điệu cải lương lại coi hát, ca Vọng cổ là yếu tố quan trọng; vì vậy, các diễn viên thường mong muốn trong vai diễn phải có câu ca, dù là vai phụ. Những đòi hỏi của diễn viên đôi khi làm khó cho đạo diễn hay người chuyển thể kịch bản cải lương, có thể gọi vui là “duyên phận phải chiều". Sang những năm đầu thế kỷ XXI, lớp diễn viên, đạo diễn, chuyển thể mới đã cân bằng hơn giữa ca và diễn, tạo nên sự hài hòa. Với những diễn viên hạng sao, siêu sao, việc thể hiện nhiều câu Vọng cổ cũng là cách phát huy sở trường, khoe giọng và tạo sự hưởng ứng từ khán giả.
Cải lương ở Nam Bộ trước và sau giải phóng có xu hướng chú trọng nghệ thuật ca, đồng thời quan tâm đến thời trang và hình thức biểu diễn; nghệ thuật diễn được thể hiện sâu sắc ở những nghệ danh có khả năng ca diễn toàn tài hoặc những nghệ sĩ có thế mạnh riêng về ca. Qua nhiều Hội diễn Cải lương toàn quốc từ năm 1990 đến năm 2000, cải lương Nam Bộ có những bước đột phá, đổi mới phương cách biểu diễn với các nghệ sĩ như: Ngọc Giàu, Bạch Tuyết, Thanh Kim Huệ, Thanh Tuấn, Minh Vương, Lệ Thủy, Phương Liên, Thoại Miêu, Thoại Mỹ, Vũ Luân… Các nghệ sĩ ca diễn sâu sắc, đi sâu vào biểu cảm nội tâm nhân vật và mâu thuẫn, xung đột có tính kịch. Đồng thời, các nghệ sĩ cải lương Nam Bộ tiếp tục phát huy tài năng bằng kỹ thuật nghệ thuật ca Vọng cổ. Ca Vọng cổ vẫn là những sáng tạo không bờ bến. Nếu nghệ sĩ nào muốn nổi danh, được công chúng hâm mộ và sống mãi trong lòng khán giả thì phải tạo được phong cách riêng, như nghệ danh nổi bật: Út Trà Ôn. Sau Út Trà Ôn, cải lương Nam Bộ có hàng loạt nghệ sĩ ca Vọng cổ giỏi như: Thanh Tuấn, Thanh Hải, Thành Được, Hữu Phước, Hùng Cường, Minh Cảnh, Văn Hường, Tấn Tài, Minh Vương, Chí Tâm, Hoài Thanh, Châu Thanh, Vũ Linh, Tài Linh, Trọng Hữu, Trọng Phúc; cùng các nghệ sĩ nữ như Út Bạch Lan, Thanh Hương, Thúy Nga, Ngọc Giàu, Thanh Nga, Ngọc Hương, Phượng Liên, Lệ Thủy, Mỹ Châu, Thanh Kim Huệ, Phượng Hằng, Lệ Hằng, Cẩm Tiên, Thanh Ngân…
Miền Bắc cũng có dàn nghệ sĩ của xứ Thăng Long xưa như: Ái Liên, Sỹ Tiến, Đào Mộng Long, Lệ Thanh, Ngọc Dư, Bích Được, Bích Hợp, Khánh Hợi, Tuấn Hợp, Mạnh Tưởng… Đây là những nghệ sĩ góp phần tạo dựng diện mạo cải lương ở Hà Thành. Bởi cải lương ở miền Bắc ban đầu tiếp nhận cải lương Nam Bộ, từ cách diễn, cách hát đến tuồng tích của “mẫu cải lương Nam", sau đó từng bước tạo dựng sự nghiệp riêng về sáng tác kịch bản và nghệ thuật ca diễn. Tuy vậy, lớp nghệ sĩ như Ái Liên, Bích Hợp, Bích Được, Khánh Hợi, Sỹ Tiến, Đào Mộng Long, Tuấn Hợp, Ngọc Dư, Lệ Thanh… đã tạo dựng phong cách biểu diễn cải lương ở miền Bắc, nhưng vẫn ca diễn bằng tiếng Nam. Đến khoảng năm 2000, cải lương ở miền Bắc mới có xu hướng ca diễn bằng tiếng Bắc rõ nét hơn, số người còn ca tiếng Nam ngày càng ít. Sự ra đời và phát triển của cải lương ở miền Bắc có sự tiếp nhận, kế thừa từ cải lương Nam Kỳ. Đây cũng là một quy luật của nghệ thuật khi tiếp nhận một trào lưu hay một hình thức nghệ thuật mới. Nhìn rộng sang trào lưu sân khấu kịch nói, Hà Nội, Sài Gòn lúc đầu có sự tiếp nhận từ kịch nói Pháp, sau đó dần dần chuyển hóa thành kịch nói Hà Nội, kịch nói Sài Gòn, kịch nói Nam Bộ.
Âm nhạc Việt Nam những năm 60 của thế kỷ XX, các ban nhạc rock ở Sài Gòn tiếp thu âm nhạc rock Mỹ: hát tiếng Mỹ, biểu diễn, nhảy và sử dụng thời trang theo phong cách Mỹ, ban nhạc đặt tên tiếng Mỹ… Từ những “khuôn mẫu" ấy, các nghệ sĩ dần thoát ra để tạo dựng phong cách biểu diễn âm nhạc rock Việt Nam, sáng tác những bài hát mang cảm xúc, tâm trạng của con người Việt Nam như các bài Mặt trời đen của Nguyễn Trung Cang, Hãy ngước mắt nhìn đời, Tôi muốn… của ban nhạc Phượng Hoàng. Sau đổi mới, thế hệ tiếp theo của những ban nhạc trẻ Nam, Bắc lại tiếp nhận và biểu diễn các bản nhạc Pop, Rock, Rap, Hiphop… của Mỹ. Từ những mẫu “nguyên bản" của ca nhạc Mỹ, họ dần tạo dựng phong cách riêng, bắt đầu sáng tác và biểu diễn những bài hát mang màu sắc âm nhạc Việt Nam. Các trào lưu ca nhạc Mỹ cũng từng ảnh hưởng đến nhiều nước có nền âm nhạc lâu đời như Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản… Trong quá trình tiếp nhận cái mới, mỗi quốc gia đều có sự học hỏi, tiếp thu, sau đó từng bước tạo dựng phong cách ca nhạc riêng, mang hơi thở, đặc điểm thang âm, điệu thức và bản sắc dân tộc. Đó là quy luật tiếp biến văn hóa nghệ thuật, biến cái ngoại sinh thành nội sinh để phát triển bền vững.
Trở lại với ca nhạc sân khấu cải lương, những diễn viên được công chúng hâm mộ, ngoài nghệ thuật diễn, thường phải ca bài Vọng cổ ở trình độ cao để tạo phong cách riêng, như Vọng cổ Út Trà Ôn, Vọng cổ Minh Cảnh, Năm Châu, Phùng Há, Vọng cổ Thanh Tuấn… Bí quyết thành công nằm ở 10 nhân tố kỹ thuật ca Vọng cổ:
1. Chất giọng trong sáng, trầm ấm, mượt mà. Đây là yếu tố liên quan đến cấu trúc thanh quản và năng khiếu tự nhiên. Người có chất giọng tốt sẽ có giọng hát đầy hơi, vang, tròn, rền như tiếng chuông.
2. Kỹ thuật luyện hơi. Luyện hơi dài, kỹ thuật truyền hơi; khi ca không có chỗ ngừng lấy hơi, người ca phải chủ động xử lý hơi bằng kỹ thuật phù hợp. Luyện hơi giúp giọng ca đầy hơi, tròn hơi, mang đầy nội lực, ca tròn vành, rõ chữ.
3. Kỹ thuật vào câu Vọng cổ. Nói lối, gối bài ca và bắt vào câu Vọng cổ phải mượt mà. Từ nói vào ca, người nghe không bị gợn, không đứt mạch truyền cảm; người ca phải bảo đảm không chênh phô và ca chuẩn nhịp.
4. Xuống hò. Ca Vọng cổ thường được khán giả vỗ tay khi xuống hò. Đây là một điểm nhấn ấn tượng đối với bất kể diễn viên hạng sao, siêu sao hay nghệ sĩ chưa có tên tuổi. Bí quyết nằm ở chỗ buông hơi, lồng hơi, treo hơi, thả hơi, thậm chí là đâm hơi, dựng hơi nhưng không phô. Đó là kỹ thuật chuyển điệu, ly điệu. Người nghe chờ đợi mãi, câu ca được nói vói lên, chạy chữ lên cao vút rồi thả xuống hò; khi xử lý thành công, lời ca sang sảng như chuông mà vẫn mượt, ngọt.
5. Vào Vọng cổ không chồng hơi, dựng hơi. Dù đây là kỹ thuật cơ bản, nhưng khi ca vào lời ca, mọi kỹ thuật phải trở nên tự nhiên, điêu luyện đến mức như có mà không, tạo ra lực hơi đầy, óng mượt khi bắt vào câu Vọng cổ, như chỉ là một làn hơi.
6. Làn hơi. Làn hơi thể hiện trong vận âm, kỹ thuật chuyển làn hơi mượt mà từ làn nọ sang làn kia, từ hơi này sang hơi khác, ngọt, mượt, không đứt hơi, liên hơi để tròn vành, rõ chữ. Đây là kỹ thuật lấy hơi, truyền hơi và vận hơi để tạo ra nội lực khi ca. Âm cao, trung, trầm đều phải tròn, rõ nét, mỗi âm vang như tiếng chuông.
7. Lòng câu. Đây là cảm xúc truyền cảm của người ca, đưa cảm xúc âm nhạc đến người nghe. Lòng câu là tổng thể kỹ thuật ca Vọng cổ, biểu hiện ý nghĩa trong câu nhạc, trong đó hơi nhạc được diễn tả bằng ca từ. Đây là sự kết hợp giữa biểu cảm âm nhạc và ca từ, tạo nên cảm xúc khi ca Vọng cổ, lay động người nghe bởi ý nghĩa của lời ca.
Người ca phải biết tỉa, nhấn từng từ ngữ của câu ca. Bí quyết kỹ thuật này nằm ở tinh thần khổ luyện, biết trân trọng từng từ ngữ, đồng cảm với người sáng tác và biểu cảm được ý nhạc, lời ca. Người nghệ sĩ nghiêm túc phải trân trọng người sáng tác, trân trọng người nghe, nâng niu từng từ khi lồng hơi, nhả chữ mới có thể đạt đến thành công.
8. Ý nghĩa của câu nhạc. Câu Vọng cổ thường có bốn câu, hai câu. Câu nhạc không thay đổi nhiều về âm chủ, nhưng những âm luyến láy được thay đổi cho phù hợp với dấu giọng của lời ca. Đây là kỹ thuật nhả chữ của người ca đối với các thanh ngã, nặng, hỏi, thanh bằng, thanh không, qua đó biểu hiện ý nghĩa của từ ngữ trong cả câu nhạc, câu lời.
Người ca phải nhả chữ, thả hơi, lồng hơi, buông hơi, vận khí, lòng hơi một cách mượt mà, chuẩn xác về chữ. Ví dụ, “về" không phát âm thành “zề", đồng thời không để đuối hơi, hụt hơi khi ca.
9. Ca chuẩn nhịp, cao độ, trường độ và cảm xúc âm nhạc. Đây là sự kết nối cảm xúc giữa người ca với người đàn; bên tung, bên hứng nhịp nhàng, ăn nhập với nhau như một mà hai, hai mà một. Người ca và người đàn phải chuẩn mực về nhịp phách, gọi là ca chắc nhịp, nhưng vẫn phải có cảm xúc, nhạc cảm truyền đến người nghe. Đây là cái khó của tổng hợp kỹ thuật ca Vọng cổ.
10. Những nhân tố cơ bản quyết định ca Vọng cổ thành công. Công chúng mộ điệu cải lương, yêu thích danh ca bài Vọng cổ thường đánh giá cao những yếu tố:
Chất giọng trời phú, ca chuẩn kỹ thuật Vọng cổ.
Ca chuẩn bộ nhịp điệu, phương pháp phát âm, nhả chữ, kỹ thuật hơi.
Giọng ca có khả năng biểu cảm âm nhạc và ca từ, truyền đến người nghe những tinh hoa nghệ thuật cải lương.
Vọng cổ có thể được xem là một trong những yếu tố đặc sắc của sân khấu kịch hát cải lương.
Nghệ nhân xưa và nay thường gọi “xem hát cải lương, nghe ca Vọng cổ". Ở đây có thể phân biệt rõ hai khái niệm “hát" và “ca". Hát là hát bài bản cải lương, hát nhạc, sáng tác ca khúc vào vở cải lương; còn ca là ca làn điệu cải lương, sau này phát triển mạnh với ca bài Vọng cổ.
Ca bài Vọng cổ Nam Kỳ, theo ý kiến riêng, có hai nghệ danh nổi bật, mỗi người giỏi một phong cách.
Nghệ sĩ Nhân dân Út Trà Ôn, ông có chất giọng trời phú, tiếng hát ở âm khu nào cũng vang rền như chuông. Giọng ca truyền cảm, từng câu chữ, lòng hơi đầy nội lực, nhả chữ tròn vành, rõ chữ. Ông đã kết hợp mượt mà giữa chất giọng trời cho với quá trình tập luyện kỹ thuật nhuần nhuyễn, tinh xảo; xử lý câu nhạc, ca từ tinh tế, nhạy bén và giàu mỹ cảm nghệ thuật. Những ai muốn ca Vọng cổ hay có thể nghiên cứu phong cách, kỹ thuật ca Vọng cổ của Út Trà Ôn để học hỏi và nâng cao trình độ.
Người thứ hai, NSƯT cải lương Thanh Tuấn. Giọng ca của anh có những nét riêng, nhưng điều tôi đặc biệt khâm phục là tài năng về kỹ thuật ca bài Vọng cổ. Tại Hội diễn Sân khấu Cải lương toàn quốc năm 2000, tổ chức ở Sài Gòn, anh đoạt Huy chương Vàng về ca bài Vọng cổ.
Nghệ sĩ Thanh Tuấn thể hiện tài năng ca Vọng cổ, giỏi về nhịp phách, lồng hơi, nhả chữ, dựng hơi, đâm hơi… như người “làm xiếc" trên dây. Nói tới đâm hơi là nói tới kỹ thuật dễ dẫn đến hát phô, nhưng anh xử lý không phô mà tạo được sự chông chênh theo cách chuẩn của người ca làm chủ kỹ thuật. Điều đó khiến người nghe, riêng tôi, bái phục đến kinh ngạc.
Ban Giám khảo Hội diễn trao Huy chương Vàng cho một phong cách ca Vọng cổ sáng tạo, có kỹ thuật mới là thật xứng đáng. Những ai muốn thành công trong ca Vọng cổ có thể học hỏi ở hai “người thầy" cải lương về kỹ thuật ca bài Vọng cổ: một người nổi bật về tài lồng hơi, nhả chữ; người thứ hai nổi bật về kỹ thuật xử lý bộ nhịp ca Vọng cổ.