Tập thơ Luân hồi lá của Đàm Chu Văn (NXB Hội Nhà văn, 2024) là một biên niên sử thi bằng thơ, nơi từng phiến lá thời gian hóa thân thành ký ức sống động, thấm đẫm máu thịt của lịch sử và nghĩa tình con người. Không chỉ là thơ, mà còn là chứng từ. Không chỉ là cảm xúc, mà còn là minh triết, là đạo lý sống, là tiếng gọi âm vang từ cội nguồn.
Một bản hùng ca nhân bản
Ngay từ nhan đề Luân hồi lá, người đọc đã bước vào một vòng sinh mệnh: nơi chiếc lá không chỉ rụng xuống, mà còn tái sinh; nơi cái chết không là đoạn kết, mà là khởi điểm cho một mùa xanh khác. Đàm Chu Văn dựng nên một vũ trụ luân hồi: không tĩnh tại, mà chuyển động trong ký ức, lịch sử và những linh hồn bất tử.
Ở phần đầu - Lá trung quân, các bài thơ như Lời thề bên Bến Tượng, Ngày chị Sáu hi sinh, Chỉ còn một bước chân, Một người bạn Nhật, Biên giới Tây Nam… là những khúc tráng ca về những con người hiến thân cho lý tưởng cao cả. Thơ Đàm Chu Văn không gào thét, mà trầm mặc và trang trọng. Chất sử thi trong ông là ngọn lửa âm ỉ của lòng trung nghĩa, sự thủy chung son sắt.
Có khi, chỉ bằng một hình ảnh nhỏ, tác giả đã gợi cả bi kịch lịch sử và khí phách dân tộc: “Nếu Người không trở về bến sông này nữa/ những người lính đi đánh trận Bạch Đằng năm ấy/ có thể đã hết thảy hi sinh" (Lời thề bên Bến Tượng).

Tập thơ Luân hồi lá của nhà thơ Đàm Chu Văn (ảnh: ĐG)
Một dòng linh cảm tập thể
Trong Mười năm ở lại, không gian đất nước Campuchia hiện lên như miền đất ký thác máu xương của những người lính tình nguyện: “Tuổi trẻ các anh gửi lại nơi này/ Máu xương các anh gửi lại nơi này".
Đây không phải thứ thơ kể chuyện theo lối tuyến tính, mà là một “huyền thoại ký ức tập thể", đan cài cảm hứng sử thi và tự sự trữ tình. Những bài như Áo dài tìm Anh, Lời nguyền ở mũi Cà Mau, Cô giao liên ấy… đều mang tâm thức lịch sử - nhưng là lịch sử cảm bằng nhịp tim, không đóng khung trong giáo trình.
Ở đó, thơ Đàm Chu Văn trĩu nặng lòng biết ơn và nỗi tiếc nuối. Những nhân vật - dù là liệt sĩ, cô giao liên hay người thương binh - không chỉ là biểu tượng, mà là “chủ thể sống": “Bốn mươi năm qua anh chỉ nghe bằng ký ức" (Về một người thương binh).
Câu thơ khiến người đọc rùng mình, khi lịch sử không còn vang bằng kèn trống, mà bằng sự câm lặng của vết thương không khép miệng.
Vết thương lịch sử được chưng cất thành thơ
Ở Chợ tình Sapa, chất liệu hiện sinh được đẩy đến tận cùng: “Họ đi tìm nhau/ tìm lại nỗi nuối tiếc của mình/ sự khao khát của mình/ như trót đánh rơi chén ngọc…"
Cuộc kiếm tìm không nhằm khôi phục hiện thực, mà gọi tên một bản thể đã mất. Đáng quý trong Luân hồi lá là tư tưởng đã được bốc cháy thành mỹ cảm nghệ thuật. Đàm Chu Văn không minh họa lịch sử, mà chưng cất nó thành hình tượng. Những bài thơ như Đêm trăng Đà Lạt, Cây thị của bà, Màu áo em… như khoảng thở dịu nhẹ, neo giữ tầng nghĩa thẳm sâu.
Khi ông viết: “Mồ côi lăn lóc dãi dầu/ Cắn răng mà sống, ngẩng đầu mà đi" (Cây thị của bà), thì đó không chỉ là số phận cô Tấm, mà còn là lời thắp lên cho cả một thế hệ, rằng lòng nhân hậu và nghị lực mới là điều dẫn dắt ta đi qua u tối, vô minh.
Một bản giao hưởng đa thanh
Giai điệu gốm mang đậm mỹ học biến hóa: “Lửa bao giờ cũng hai mươi tuổi/ Cháy hết mình/ Nghìn độ nóng luyện tôi/ Cho làn men hóa ngọc…"
Hình tượng ngọn lửa ẩn dụ cho lý tưởng, cho nhiệt huyết, cho sự sống phực lửa từ tàn tro.
Tập thơ chia làm hai phần: Lá trung quân và Như chừng xanh hơn phản ánh hai trạng thái: quá khứ và hiện tại, chiến tranh và đời thường, huỷ diệt và tái sinh. Phần hai với các bài như Ca cao nở dưới tán rừng, Uống rượu cần ở Tà Lài, Đêm nhài hương… mang đậm màu sắc bản địa, là một dạng thơ sinh thái, nơi cái đẹp là một biến thể của nỗi đau.
Tác giả không phân biệt thơ lớn - thơ nhỏ. Mỗi bài là một chiếc lá trong khu rừng ký ức, khiêm nhường mà đầy sức sống. Để rồi tất cả tụ hội vào khúc kết của luân hồi: “Thức dậy nào reo xuân!/ he hé tươi non luân hồi mắt lá" (Luân hồi lá).
Một trường ca lặng lẽ về thân phận và cội nguồn
Luân hồi lá phác dựng một hành trình: hành trình đi qua chiến tranh, mất mát, đứt gãy lịch sử, để đến với sự chữa lành và trở về cái gốc: với mẹ, với bà, với cây thị, với đất nước trong dáng hình cánh lá.
Mỗi chiếc lá rơi xuống, lại bắt đầu một mùa mới. Như thơ, từ nước mắt bung bật mầm xanh. “Luân hồi lá" là sự sống tiếp tục, trong lặng lẽ, nhưng bền bỉ. Như gió vờn trên sông. Như bóng mẹ khuất sau lưng. Như ký ức chưa từng ngủ yên.
Luân hồi lá cho thấy một cách viết thơ chiến tranh mà không cần viết về chiến tranh; một lối kể ký ức bằng độ lặng nhiều hơn là bằng hồi tưởng.
Đọc tập thơ này, ta không chỉ thấy quá khứ được gọi tên, được triệu hồi, mà còn thấy tương lai được kiến tạo bằng lòng tri ân và sự lây lan tiếp truyền của những điều tử tế.
HOÀNG ĐĂNG KHOA
Mời quý độc giả đọc chùm thơ trích từ tập “Luân hồi lá" được nhà thơ Hoàng Đăng Khoa chọn và giới thiệu.
Hương khói vẫn thơm bay
Hương khói vẫn thơm bay trong ngôi đền dân dã
dựng bằng thành kính niềm tin:
Hồ nhiên nhi thiên
Chí vọng thâm ân
Minh hoài hậu đức(*)
niềm tin nguyên sơ
niềm tin rất thực
Hồ Chí Minh vĩ đại Con Người
Chí Người cao thẳm
Ơn như trời biển
Đức Người sáng mãi muôn sau!
Giặc điên cuồng bom đạn, cùm gông
không ngăn được lòng dân yêu kính Bác
không khuất được triệu hồn bất khuất
xả thân vì Độc lập- Tự do- Cơm áo- Hoà bình
đất nước vẹn toàn, liền dải xa xanh
hoa thắm mỗi mái nhà hạnh phúc
Hồ nhiên nhi thiên
Chí vọng thâm ân
Minh hoài hậu đức
ngôi đền nhỏ đất Đồng Nai tạc niềm tin triệu khối óc, con tim nhân dân cả nước
cùng những bông súng trắng tự cánh đồng Long Thành, Nhơn Trạch lặng dâng hương…
________________
(*) Ngày Bác mất (2-9-1969), trong vùng địch tạm chiếm, để che mắt địch, nhân dân xã Phú Hội, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai đã khôn khéo, sáng tạo lập bức hoành phi với ba hàng chữ “Hồ nhiên nhi thiên, Chí vọng thâm âu, Minh hoài hậu đức" trong ngôi đền của làng để bí mật thờ phụng Bác Hồ.

Tác phẩm Đèo Lũng Lô của danh họa Tô Ngọc Vân (ảnh: ĐG sưu tầm)
Bên đèo Lũng Lô
Tưởng nhớ họa sĩ Tô Ngọc Vân
Người họa sĩ tài danh ngã xuống trong trận bom thù
máu ông đẫm bức tranh chưa kịp vẽ
những bức ký họa còn phác dở
bộ đội, dân công, xe, pháo,..
cùng ông hành quân lên Điện Biên
xuyên rừng xuyên đêm
vực thẳm, đèo cao, đá tai mèo, trơn lầy, muỗi, vắt,..
mưa rét xuyên lồng ngực
xối xả đạn bom thù
cả nước dồn chân đi
cái Đẹp nôn nao phía trước
những người đẹp từ trong những bức tranh thuở trước
đã cùng đi lên Điện Biên
Bảy mươi năm sau, đi qua đèo Lũng Lô
lại nhớ bức tranh ông để lại (*)
tác phẩm cuối cùng của ông góp vào chiến công vĩ đại
tài năng và lòng dũng cảm vươn cao.
Điện Biên, 24/5/2024
__________
(*) Bức tranh Bên đèo Lũng Lô là tác phẩm cuối cùng về chiến thắng Điện Biên Phủ của họa sĩ Tô Ngọc Vân để lại trước lúc hy sinh.
Cô giao liên ấy
Gửi T.N
Có thể em là cô gái ấy
Cũng có thể cô gái ấy là em
Rừng Miền Đông những năm bom đạn
Thoăn thoắt bước chân “con sóc nhỏ" dịu hiền
Con sóc nhỏ rời nhà đi kháng chiến
Bài tập ngày mai còn làm dở trên bàn
Áo dài trắng mẹ cất thầm ngăn tủ
Lọn tóc huyền gửi lại những vấn vương
Bao thương nhớ nén đáy bồng (*), khoảng vắng…
Những ồn ào đồng đội sẽ che đi
Mười bảy tuổi cuộn sức đầy con gái
Con gái hay kể chuyện rầm rì
Khăn rằn ấp cổ cao hơi ấm mẹ
Mẹ may khăn, mẹ lặng lẽ may bồng (*)
Tấm bà ba cũng từ tay mẹ cắt
Nước mắt người thấm mỗi sợi chỉ đan
Nước mắt người ấm nóng nhịp tim con
Nhịp tim nguyện đập theo sự sống còn Tổ quốc
Khi đất nước còn đen ngòm bóng giặc
Dòng sông ngăn giới tuyến hai bờ
Bom đạn giặc dội vào trang sách tuổi thơ
Nhát tà bạo chém ngang dòng lục bát
Ta sẽ đến nơi nào có giặc
Ta chưa về khi Tổ quốc chưa yên!(**)
Có thể cô gái ấy là em
Cũng có thể em là cô gái ấy
Bốn mươi năm - chuyện ngày xưa nhớ lại
Vẫn còn đây bóng dáng các Anh hùng!
Rừng Chiến khu Đ, tháng 5- 2021
______________
(*) Một loại túi vải giống như ba lô, để đựng quân tư trang, thường do gia đình may trang bị cho các chàng trai, cô gái Nam Bộ khi vào chiến khu tham gia kháng chiến chống Mỹ.
(**)Lời bài hát Việt Nam trên đường chúng ta đi, lời thơ Xuân Sách, nhạc Huy Du.
(Nguồn: Tạp chí Văn nghệ Quân đội tháng 8-2025)