Thứ 6 - 26/02/2016
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây
MỪNG ĐẤT NƯỚC ĐỔI MỚI, MỪNG ĐẢNG QUANG VINH, MỪNG XUÂN BÍNH NGỌ 2026!
CHỮ NÂNG NGƯỜI LÊN CAO (*)

Chu va nguoi 400 nam.jpg
(Đọc "Chữ và người 400 năm"  -Tiểu thuyết lịch sử của Hoàng Minh Tường, NXB Phụ nữ, 2025)

​367 năm (tính từ năm 1651, khi Từ điển Việt - Bồ - La của các tu sĩ Dòng Tên đạo Kito được Alexandre de Rhodes in và phát hành) tháng 11 - 2018, đoàn nhân sĩ trí thức người Việt trong đó có nhà văn Hoàng Minh Tường, mang theo đá núi Non Nước, Đà Nẵng hành hương về Isfahan, cố đô xứ nghìn lẻ một đêm, nơi có ngôi mộ đá của Rhodes để đặt bia tôn tạo. Năm năm sau, tháng 12 - 2023 đoàn lại mang theo một chiếc thuyền buồm bằng đồng cao 3m, dài 1.6m do nghệ nhân đúc đồng xã Điện Phương, Điện Bàn, Quảng Nam chế tác, tiếp tục hành hương về Lisbon và Guarda, Bồ Đào Nha, quê hương của Francisco de Pina - người khởi đầu việc sáng tạo chữ Quốc ngữ để đặt Đài tưởng niệm.

Trở về, nhà văn viết phóng sự dài kỳ Ngược nguồn chữ Việt in báo, kể về những chuyến đi, về Francisco de Pina, về  ngôi mộ đá của Alexandre de Rhodes, vị giáo sĩ đã góp phần vào việc hình thành chữ Việt trong nghĩa trang Kito giáo của người Armenia, cát bụi vùi lấp…  Tưởng sau từng ấy giãi bày, tác giả Thời của thánh thần đã có thể kê cao gối ngủ. Nhưng không, cuối năm 2025 ông bất ngờ in và phát hành “Chữ và Người 400 năm", cuốn tiểu thuyết lịch sử đầu tiên vinh danh những người đã sáng tạo ra chữ Quốc ngữ.

Bối cảnh tiểu thuyết bắt đầu năm 1617, khi đoàn 4 giáo sĩ Dòng Tên đạo Kito An, trong đó trẻ nhất là Francisco de Pina, người Bồ Đào Nha, 3 người kia gồm thầy Joseph, thầy Paulus Saito  là người Nhật, theo tàu buôn Bồ Đào Nha vào cửa Đại Chiêm.  Các giáo sĩ chịu sứ mệnh thiêng liêng của Đức Chúa Kito, mang phúc âm và phước lành đến với xứ An Nam. Rào cản lớn nhất các giáo sĩ gặp phải là ngôn ngữ. Không thể dạy đạo khi người dạy và người học bất đồng ngôn ngữ; vì thế cùng với phong tục tập quán bắt buộc họ phải học chữ Hán, chữ Nôm đang được dùng trong xã hội Việt Nam lúc ấy.  Không lâu sau, các giáo sĩ, những nhà ngôn ngữ học xuất sắc, đã có thể soạn tài liệu, giáo lý bằng chữ Nôm. Trong số họ, Francisco de Pina nổi tiếng nhất. Ông học tiếng Việt khá nhanh, trở thành nhà truyền đạo Công giáo đ?u ti?n c? th? gi?ng ??o tr?c ti?p b?ng ti?ng Vi?t.

T? vi?c h?c n?i, Francisco de Pina ngh? ra ph??ng ph?p ghi ?m ti?ng Vi?t b?ng k? t? Latinh. Trong vi?c n?y, gi?p ?ng nhi?u nh?t ch?nh l? ?m nh?c. M?t l?n c?ng Thi?n, m?t ch? b? gi?p vi?c ?i qua c?u Ch?a b?c ngang s?ng Ho?i, n?i ch? C?i v?i ph??ng bu?n ng??i Nh?t, ?ng g?p ba b? con ng??i h?t x?m v? l?p t?c b? m? ho?c ầu tiên có thể giảng đạo trực tiếp bằng tiếng Việt.

Từ việc học nói, Francisco de Pina nghĩ ra phương pháp ghi âm tiếng Việt bằng ký tự Latinh. Trong việc này, giúp ông nhiều nhất chính là âm nhạc. Một lần cùng Thiện, một chú bé giúp việc đi qua cầu Chùa bắc ngang sông Hoài, nối chợ Củi với phường buôn người Nhật, ông gặp ba bố con người hát xẩm và lập tức bị mê hoặc bởi tiếng đàn bầu. Nó trầm bổng luyến láy, giãi bày tâm tư khát vọng và nỗi buồn vĩnh cửu của kiếp nggười. Trở về, Pina sắm cho mình một cây đàn bầu. Từ đó khi nghe ai nói một từ mới lạ, ông ghi nhớ, ký âm rồi nắn nót từng tiếng đàn cho đến khi chuẩn chỉnh mới thôi. Ông định âm tiếng Việt trên các khuông nhạc, tìm ra 6 dấu thanh ứng với 6 thanh (không, huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã: a, à, á, ạ, ả, ã). Việc tìm ra các dấu thanh khiến từ tiếng Việt của Pina tăng lên rất nhiều…

Năm 1624, khi Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ), Majorica và các đồng đạo đến Đàng Trong thì Pina đã thông thạo tiếng Việt. Đến lúc ấy họ mới nhận ra một điều, chữ Hán và Nôm đều là dạng văn tự ngữ tố, mỗi chữ biểu thị một âm tiết. Hai thứ chữ này khó học vì đòi hỏi người học phải nhận dạng và học thuộc lòng cách viết các nét.

Việt Nam là một đất nước nông nghiệp, nông dân và ngư dân - đối tượng chủ yếu của các nhà truyền giáo chiếm đa số. Nếu truyền giáo bằng chữ Nôm cho những đối tượng này, trong 100 người, may ra chỉ có vài người lĩnh hội được. Trước thực tế ấy, các giáo sĩ quyết tâm sáng tạo ra một hệ thống chữ viết mới đơn giản, phù hợp với tiếng Việt nhất. Mục tiêu là ai cũng học được. Và thế là họ bắt tay vào sáng tạo. Chỉ với một nhóm người, trong một thời gian nhanh kỷ lục: 34 năm (1617 - 1651) họ đã sáng tạo ra một hệ thống chữ viết mới, khá hoàn chỉnh. Bí quyết để các nhà sáng tạo làm được kỳ tích này là việc ký âm.... Alexandre de Rhodes nhận xét “Những dấu thanh không được ghi trong chữ viết của họ, chỉ biểu hiện trong giọng nói mà thôi: điều này thực sự làm khó chúng tôi…".

 “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam". Tiếng Việt có 6 thanh, ngôn ngữ châu Âu lại không có thanh điệu nên thời kỳ đầu các giáo sĩ Dòng Tên viết tiếng Việt không có dấu, như kiểu romaji (ghi âm tiếng Nhật bằng mẫu tự La tinh), nhưng thất bại, bởi tiếng Nhật cũng là một ngôn ngữ không có thanh điệu. Để phân biệt được các âm tiết và thanh điệu trong tiếng Việt, có lẽ các giáo sĩ Dòng Tên đã áp dụng các âm vận tiếng Trung vào tiếng Việt? Phải mất tới 17 năm kể từ khi họ đặt chân đến Việt Nam, hệ thống dấu thanh của tiếng Việt mới xuất hiện đầy đủ trên các văn bản viết tay.

 Từ khởi đầu của Francisco de Pina, khi Rhodes đến xứ Đàng Trong thì phương pháp ghi âm tiếng Việt bằng ký tự Latinh, nay gọi là chữ Quốc ngữ, được xây dựng. Alexandre de Rhodes đã ghi nhận và thừa hưởng di cảo của những tiền bối. Ông không phải là người tạo ra chữ Quốc ngữ nhưng có công hệ thống hóa và san định hệ chữ này; biên soạn và giám sát việc ấn hành Từ điển Việt-Bồ-La, là cuốn từ điển tiếng Việt đầu tiên (1649 - 1651).

Việc cuốn Từ điển Việt-Bồ-La, một công trình đồ sộ được in ấn và phát hành lúc ấy cho thấy nỗ lực phi thường của Alexandre de Rhodes. Sách dày gần 530 trang khổ 14 x 20 cm, chia làm 3 phần, với hơn 9000 mục từ được sắp theo bảng chữ cái của tiếng Việt, phiên dịch sang tiếng Bồ, tiếng La tinh, kèm theo giải thích, trích dẫn. Muốn in được, nhà in phải đúc riêng các font chữ Việt, và Rhodes phải theo dõi kỹ càng từng công đoạn, in xong, làm đính chính… Một cuốn sách phức tạp như vậy mà chỉ sai sót khoảng 250 từ tiếng Việt, quả là một kỳ công đáng khâm phục.

***

Thế kỷ 17, nước ta đang trong thời kỳ phân chia lãnh thổ, “vua Lê chúa Trịnh" trấn giữ phía Bắc sông Gianh (Đàng Ngoài), chúa Nguyễn cai trị ở miền Nam (Đàng Trong). Ban đầu, cả họ Trịnh và họ Nguyễn đều mang khẩu hiệu “phù Lê diệt Mạc" để lấy lòng thiên hạ và thề trung thành với triều Hậu Lê. Sau khi nhà Mạc bị đánh đổ, trên danh nghĩa, cả Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn đều là bề tôi của nhà Hậu Lê, Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài đ?u l? l?nh th? c?a?ều là lãnh thổ của nhà Lê. Nhưng trên thực tế, hai tập đoàn phong kiến này đều tạo thế lực cát cứ cho riêng mình như hai nước riêng biệt, vua nhà Hậu Lê không còn thực quyền nên không ngăn chặn được. 

Năm 1617 khi con tàu buôn của người Bồ Đào Nha chở theo bốn giáo sĩ Dòng Tên đạo Kito vào cửa Đại Chiêm. Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên chủ trương mở cửa giao thương với nước ngoài, rất cởi mở với các giáo sĩ và đạo Thiên Chúa. Thậm chí vương phi của Chúa, Công chúa nhà Mạc Mạc Thị Giai còn trở thành con chiên của Chúa. Các giáo sĩ được tự do ra Đàng Ngoài, lên Đàng Trên (vùng Cao - Bắc - Lạng - Hà - Tuyên - Thái, nơi nhà Mạc quản lý từ năm 1595 - 1677), so sánh sự giống và khác nhau của tiếng Đàng Trong, Đàng Ngoài.

Giáo sĩ Pina ở Việt Nam 10 năm, địa bàn mục vụ của ông trải dài từ Đại Chiêm (Hội An) đến Pulucambi (Quy Nhơn), nhưng do được Sãi vương trọng thị, được quan Tuần phủ Cống Quận công Trần Đức Hòa cùng người con rể tài năng Đào Duy Từ giúp đỡ, trong 10 năm ấy ông làm được thật nhiều: dựng một nhà thờ, một chủng viện, một xưởng in khi còn chưa biết tiếng Việt. Dịch, hiệu đính Phép giảng tám ngày, cuốn giáo lý của Hồng y Bellarmine bằng chữ Latinh ra chữ Nôm để làm công cụ truyền giáo cho người Việt… Đáng tiếc công việc đang suôn sẻ thì ngày 15-12-1625, ông bị đuối nước ở biển Đà Nẵng khi cố gắng cứu một vị khách trên một con thuyền bị đắm.

Trước ngày Francisco de Pina mất một năm, tháng 12 năm 1624 tàu chở Alexandre de Rhodes cập bến Đại Chiêm. Ông bắt đầu học tiếng Việt từ giáo sĩ  De Pina, khi đó Pina  phát triển cách ghi âm tiếng Việt bằng ký tự Latinh. De Rhodes cũng học tiếng Việt từ một cậu bé khoảng 10, 12 tuổi. Hơn một năm sau, ông về Ma Cao đ? chu?n b? ra?ể chuẩn bị ra Đàng Ngoài truyền giáo. Cùng với Pedro Marques, ông cập bến Cửa Bạng, Thanh Hóa ngày 19 - 3 - 1627, đến Kinh đô ngày 2 / 7 và được chúa Trịnh Tráng dựng nhà cho ở. Hai giáo sĩ được tự do giảng đạo trong hơn một năm rồi bị quản thúc. Các hậu phi và hoạn quan vì ghét lời dạy một vợ một chồng nên tung tin đồn hai giáo sĩ là phù thủy. Hai ông bị trục xuất theo tàu Bồ Đào Nha về Ma Cao vào tháng 5 - 1630…

***

     Sau hai chuyến hành hương, đi Iran tháng 11 - 2018 và Bồ Đào Nha tháng 12 - 2023, tưởng như hai chuyến đi du hí dối già nhưng trở về, nhà văn Hoàng Minh Tường không sống yên. Ông cảm thấy mình như kẻ vong ơn, vong bản, khi hàng ngày nhìn vào các trang chữ, đọc các trang chữ, mà từ ngày 15 - 4 - 1865 đã xuất hiện ở Sài Gòn trên tờ Gia Định báo, tờ báo An Nam đầu tiên dùng thứ chữ ký tự Latinh; rồi từ ngày 28 - 12 - 1918, với chỉ dụ số 123 của vua Khải Định, chính thức bãi bỏ khoa cử Nho học và thay thế bằng thứ chữ Latinh trên toàn cõi Việt Nam.

Ấy là chữ Quốc ngữ, chữ Việt - tiếng Việt chúng ta đang dùng, một chìa khóa vạn năng, vượt thoát khỏi vùng văn hóa chữ tượng hình phong tỏa mấy nghìn năm, mở thông thế giới Đông - Tây, nối mạch từ con cháu Tiên Rồng tới thời AI bây giờ.

Chữ Hán, chữ Nôm có nguồn cội, khởi thủy.

Còn chữ Quốc ngữ? Từ trên trời rơi xuống chăng?

Và phần nào để trả món nợ Chữ, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn", Hoàng Minh Tường đã làm một cuộc hành trình tìm kiếm, ngược nguồn 400 năm, để mường tượng lại một thời kỳ tao loạn Lê - Mạc - Trịnh - Nguyễn, một không gian Đàng Trong - Đàng Ngoài, một tiếp biến văn hóa Đông - Tây, với những sự kiện, nhân vật mà thời gian càng lùi xa, cuộc sống càng phàm tục càng dễ bị chôn vùi… Khép lại các chuyến đi, giống như một cỗ máy đã nạp đầy năng lượng, chỉ còn việc tỏa sáng, suốt ngày ông đóng cửa phòng văn hì hục viết. Một năm sau tiểu thuyết ra đời.

Đọc “Chữ và người 400 năm"  thấy khi tái hiện lịch sử, nhà văn đặt trọng tâm vào sự giao thoa phức hợp giữa các yếu tố Đông - Tây, Kim - cổ, Đàng Trong - Đàng Ngoài, chính trị - tôn giáo, cá nhân - cộng đồng, đàn ông - đàn bà… tạo nên một bức tranh sinh động về sự ra đời của chữ viết dân tộc giữa dòng biến động lịch sử. Từ đó làm nổi bật sự hình thành phát triển của Tiếng Việt. Tác giả cũng rất khéo  léo trong việc giữ cân bằng giữa hư cấu nghệ thuật và tính xác thực lịch sử khi dựng chân dung các nhân vật Francisco de Pina, Bento Thiện, Đào Duy Từ, Công nữ Ngọc Vạn… cùng những câu chuyện tình lãng mạn, bi thương và biến động quyền lực, khiến tiểu thuyết trở nên mềm mại, cuốn hút, tránh được sự xơ cứng về số liệu, kể cả khi viết về chuyện bếp núc của việc tạo tác ngôn ngữ. Ông không văn học hóa các sử liệu phổ thông, mà tự tìm kiếm sử liệu quí hiếm, sử liệu không có ở các sách sử phổ thông, người thường không biết hoặc khó biết để cố kết thành một cuốn tiểu thuyết theo quan điểm lịch sử của mình, tức dùng văn để dựng các sử liệu thành tiểu thuyết, dùng tiểu thuyết để trình bày một quan điểm lịch sử. Chuyện chiếc mâm hai đáy và mười sáu chữ ghi trong tờ thiếp của Lộc khê hầu Đào Duy Từ:“Mâu nhi vô dịch, mịch phi kiến tích, ái lạc tâm trường, lực lai tương địch" là một ví dụ.

Chính sử ghi, các bầy tôi của chúa Trịnh không giải được, phải nhờ đến Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan giải. Nhưng các sử gia nhà Nguyễn nhầm (hay cố tình nhầm? - NXH), bởi chuyện xảy ra năm 1627, trong lúc đó Trạng Bùng đã qua đời từ lâu, năm 1613.

Theo Chữ và người 400 năm, người giải bài thơ đố của Đào Duy Từ là Giang Văn Minh (1573 - 1638),  Thám hoa khoa Mậu Thìn, năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628) đời vua Lê Thần Tông. Người giới thiệu Giang Văn Minh ra giải đố là Tiến sĩ Nguyễn Danh Thế (1573 - 1645), đ? ??ng ti?n s? khi m?i 23 tu?i. C?n v? sao m?t Ti?n s? hay ch? n?i ti?ng l?i kh?ng gi?i ???c, ph?i v?i ??n m?t nho sinh gi? ? ?n trong th?n l?ng l?i l? m?t c?u chuy?n kh?c n?a? v? c?n nhi?u c?u chuy?n hay kh?c m? trong khu?n kh? m?t b?i vi?t t?i kh?ng th? tr?ch d?n. T?t c? ???c chuy?n t?i b?ng m?t gi?ng v?n nhu?n nh?, trong s?ng c?a m?t c?y b?t vi?t ti?u thuy?t t?i n?ng. ỗ đồng tiến sĩ khi mới 23 tuổi. Còn vì sao một Tiến sĩ hay chữ nổi tiếng lại không giải được, phải vời đến một nho sinh già ở ẩn trong thôn làng lại là một câu chuyện khác nữa… và còn nhiều câu chuyện hay khác mà trong khuôn khổ một bài viết tôi không thể trích dẫn. Tất cả được chuyển tải bằng một giọng văn nhuần nhị, trong sáng của một cây bút viết tiểu thuyết tài năng.

Đọc xong Chữ và người 400 năm, thấy kính trọng hơn tác giả. Bằng tình yêu mãnh liệt dành cho tiếng nói cha ông, Hoàng Minh Tưởng đã chứng minh cho mọi người thấy, tiếng Việt không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là một kho báu văn hóa, một dòng chảy của lịch sử và tinh thần dân tộc.

Cuốn sách, theo tôi, là một trong những tiểu thuyết lịch sử đáng đọc nhất của văn học Việt.  

N.X.H

______________ 

* Thơ Đặng Hấn: “…Người đi trên chữ/ Chữ nâng người lên cao".

Nguồn: Văn nghệ Đồng Nai số 93 (Tháng 11 năm 2025)


NGÔ XUÂN HỘI
Object reference not set to an instance of an object.

Liên kết webiste

Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai

 

Số lượt truy cập

Trong ngày:
Tất cả:

HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH ĐỒNG NAI
Địa chỉ: Số 30, Nguyễn Ái Quốc, phường Tam Hiệp, tỉnh Đồng Nai
Điện thoại : 02513.822.992; Email: hvhnt@dongnai.gov.vn
Chịu trách nhiệm xuất bản: NSND. ĐD Giang Mạnh Hà - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai.
Trưởng Ban biên tập: Phạm Văn Hoàng - Phó Chủ tịch Thường trực Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đồng Nai.