CHÀO MỪNG NHỮNG NGÀY LỄ LỚN NĂM 2022 - Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh!
NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG SÁNG: CHI TIẾT TRONG TRUYỆN


Bùi Quang Tú 

(Nguồn: Tạp chí VN ĐN số 49 - tháng 3/2022)


Có lần ông kể: Một hôm, thằng cháu độ tuổi ba mươi, dân làm ăn, có một việc nhờ đến tôi, tôi nhận lời, nó mừng, vừa cười vừa đưa tay tuốt chiếc nhẫn đang đeo, đặt xuống bàn:

- Cháu tặng chú!

Tôi đưa hai ngón tay cầm chiếc nhẫn đưa lên rồi đặt xuống ngay:

- Vàng giả!

Thằng cháu giật mình trố mắt nhìn rồi cười ha hả:

- Đúng là vàng giả! Cháu phá chú chơi. Chú không coi không nhìn, chỉ mới cầm lên mà sao chú biết, trời đất, ông nhà văn!

- Mà có đúng là giả hay không?

- Đúng là giả nhưng mà sao chú biết?

Tôi giải thích:

- Cái nhẫn của cháu nhẹ quá, nếu vàng thật thì phải nặng hơn.

Tôi kể lại cho nó nghe chuyện mua vàng. Người mua vàng sành chỉ cần nghe tiếng chạm của vàng với nền gạch và nhìn độ cái độ nẩy của nó là biết thật giả.

Thằng cháu nhìn tôi, hai con mắt tròn xoe:

- Chú đi buôn vàng đi, viết văn làm gì cho khổ!

Tôi cười và bỗng nhớ có người hỏi tôi: “Nếu không có Cách mạng tháng Tám thì anh làm gì?”- Thợ bạc! Tôi đáp.  (Thợ bạc, miền Bắc gọi là thợ kim hoàn). Tôi nghĩ lớn lên tôi sẽ làm nghề thợ bạc vì cha tôi là thợ bạc”. Năm 12 tuổi sau khi lấy bằng “xectipica” (tiểu học) Nguyễn Quang Sáng làm thợ bạc theo nghề của cha. Năm 14 tuổi, sau Cách mạng tháng Tám, nhận thấy  bổn phận của mình với Tổ quốc ông tham gia kháng chiến, gia nhập quân đội. Yêu văn chương ông đã tập tành sáng tác nhưng tác phẩm vẫn chưa ra tấm ra món.

Bước ngoặt để tạo ra nhà văn Nguyễn Quang Sáng là năm 1954, ông tập kết ra Bắc, sống ở Hà Nội, sinh hoạt ở Hội Nhà văn, được nhiều nhà văn đàn anh dìu dắt, được học ở trường viết văn Nguyễn Du. Khi hoàn thành bản thảo tiểu thuyết Đất lửa, ông đọc cho nhà văn Nguyễn Huy Tưởng và nhà thơ Hoàng Trung Thông nghe và góp ý sửa chữa. Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng reo lên: “Đất của tiểu thuyết! Cuộc sống ngồn ngộn, roi rói, đầy sẵn chỉ cần tay nghề vững nữa thôi!” Sự động viên chỉ dẫn cộng với đọc sách đã giúp ông sáng tỏ ra nhiều điều. Nguyễn Quang Sáng hăng hái viết. Nhiều tập sách ra mắt từ năm 1954 tới 1976 đã khẳng định tên tuổi ông: Con chim vàng (truyện ngắn), Đất lửa (tiểu thuyết). Bạn đọc đã nhận ra cuộc sống và con người Nam bộ qua cách kể chuyện rất Nam bộ của ông. Năm 1966 Nguyễn Quang Sáng vượt Trường Sơn vào chiến trường miền Nam với quyết tâm sống và chiến đấu để sáng tác. Và ở giữa chiến trường nóng bỏng nhiều sáng tác có chất lượng của Nguyễn Quang Sáng ra đời: Chiếc lược ngà, Bông cẩm thạch, Chị Nhung, Quán rượu người câm… Ngòi bút của ông đã khai thác nhiều góc cạnh về phẩm chất anh hùng, nhân văn của đồng chí, bà con Nam bộ trong cuộc đọ sức quyết liệt với kẻ thù. Năm 1972 ông trở ra Hà Nội, công tác ở Hội Nhà văn. Năm 1975 Nguyễn Quang Sáng cùng gia đình chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh. Sau giải phóng, ông vẫn viết đều với tiểu thuyết Dòng sông thơ ấu, tập truyện ngắn Con mèo Fugita và đặc biệt là các kịch bản phim: Mùa gió chướng,Cánh đồng hoang, Cho đến bao giờ, Dòng sông hát.

Đời văn của Nguyễn Quang Sáng có khoảng 20 tác phẩm vừa truyện ngắn, tiểu thuyết, ký, kịch bản phim. Không đồ sộ nhưng rất ấn tượng. Nếu Đoàn Giỏi viết về thiên nhiên, Sơn Nam viết về văn hóa Nam bộ thì ông chủ yếu viết về chiến tranh, có thể gọi Nguyễn Quang Sáng là nhà văn của chiến tranh Nam bộ. Với cốt truyện hấp dẫn giàu xung đột và kịch tính, văn tuy không mượt mà nhưng đậm chất Nam bộ, cách kể chuyện chậm rãi và từ tốn, ông đã thể hiện được hình ảnh con người Nam bộ giản dị, chân thực, hồn nhiên mà anh hùng, cao cả. Ông là một bậc thầy về các chi tiết trong tác phẩm, để có được chi tiết hay ông đã quan sát mà theo ông “không phải quan sát bằng mắt mà bằng tấm lòng”. Không những thế để đưa được chi tiết đắt giá vào trong tác phẩm thì nhà văn phải sống, phải nắm bắt, nuôi dưỡng và sử dụng nó hợp lý. Việc tìm đãi chi tiết để làm nên tác phẩm lại có nét giống nghề thợ bạc. Nhà văn kể: “Một hôm đọc Bông hồng vàng của Pautốpxki - ông ví công việc của nhà văn như công việc của người thợ bạc. Thợ bạc gom mạt vàng đúc thành bông hồng, nhà văn thì gom chi tiết đời sống làm nên tác phẩm. Đọc xong, tôi sướng đến bật dậy. Hồi nhỏ mình từng đãi vàng để cha làm nên đồ trang sức cho đời. Với tôi, mạt vàng là chi tiết quý báu của đời sống. Nhà văn không sáng tạo nổi chi tiết mà phải nắm bắt chi tiết để dành sẵn đó, dùng cho từng tác phẩm. Muốn có nhiều chi tiết phải lăn lóc trong đời, cho đời.


NGUYEN-QUANG-SANG 28052022.jpg
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng (ảnh sưu tầm)


Bây giờ thì mình đang đãi mạt vàng trong cuộc sống để làm nên tác phẩm!” Một nhà văn nước ngoài đã nói: “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”. Câu nói này rất đúng với trường hợp Nguyễn Quang Sáng. Đọc truyện và xem phim của ông ta thấy sục lên cái không khí khói lửa của chiến tranh, của sông nước Nam bộ. Với truyện ngắn Một truyện vui ta thấy ông sử dụng chi tiết rất giỏi. Chuyện kể về một anh nông dân du kích tên là Bảy Ngàn, một mình anh đối đầu với chiếc máy bay cán gáo (trực thăng) chỉ bằng một khẩu súng trường cổ lỗ (bá đỏ). Cán gáo quần anh, bọn địch bắn hết cơ số đạn. Anh bơi xuồng né và tránh, bắn đáp trả, nhưng loại súng cổ lỗ ấy cũng chẳng làm gì được địch. Địch quyết không bỏ mồi, chúng cứ quần lượn trên đầu anh dậm dọa. Tức mình anh trật quần ra… trỏ lên. Chi tiết này rất hay, đọc ai cũng thấy buồn cười mà cũng thấy rất hợp lý với tính cách của Bảy Ngàn. Bộ phim Cánh đồng hoang do ông viết kịch bản cũng viết về chiến tranh ở vùng sông nước. Hai vợ chồng anh du kích và một đứa con nhỏ sống ở ven sông, tồn tại như cỏ cây, chim muông của mảnh đất này. Kẻ thù với đầy đủ phương tiện hiện đại: máy bay trực thăng, súng tự động quần thảo, săm soi tìm và diệt Việt cộng. Chúng bay sát sạt tới mức chỉ cần có tiếng trẻ con khóc cũng bị lộ, sóng sông nổi lên lừng lững, cây cối nghiêng ngả, ngã rạp. Hai vợ chồng anh du kích liền bỏ đứa con chưa đầy một tuổi vào túi ni lông nhấn xuống nước, vùi giấu tiếng khóc trẻ thơ. Chi tiết này khiến bạn đọc trong nước thấy ngạc nhiên, lạ lùng với cuộc sống và chiến đấu của con người Nam bộ. Người nước ngoài thì bàng hoàng, sửng sốt. Có một học giả phương Tây hỏi nhà thơ Trần Đăng Khoa: “Có thật đời sống Việt Nam như thế không? Thật kinh khủng! Bây giờ thì tôi hiểu vì sao Mỹ thua các anh rồi. Thắng làm sao nổi một dân tộc như thế. Đây là cuộc chiến tranh giữa hai nền văn minh…” (Chân dung và đối thoại - Trần Đăng Khoa).

Trong sáng tác, Nguyễn Quang Sáng có một thói quen: “Bao giờ tôi cũng kể cho bạn bè nghe. Kể đến thuộc lòng, lúc kể tôi luôn để ý phản ứng người nghe. Thấy đoạn nào người nghe lơ là, tôi biết là chưa đạt. Mỗi lần kể mỗi khác, thấy hấp dẫn người nghe rồi tôi mới viết. Cầm bút trước trang giấy đối với tôi là chép lại truyện đã viết trong đầu, là chép lại cái truyện đã phát hành bằng mồm” - ông đã tâm sự về nghề như vậy. Vì đã nhuyễn trong tâm trí nên ông viết rất nhanh.

***

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng ra đi nhẹ nhàng, thanh thản ở tuổi 82. Một trong những người kể chuyện hay nhất về mảnh đất và con người Nam bộ đã từ giã cõi đời này. Nếu chỉ đeo đuổi nghề thợ bạc theo nghiệp cha chắc hẳn ông đã giàu có. Cú rẽ bất ngờ theo nghiệp văn đã giúp ông vang danh cả trong và ngoài nước, và ông đã để lại một di sản tinh thần phong phú, nhiều giá trị. Những thế hệ sau đọc truyện và xem phim của ông chắc chắn sẽ hiểu được thời chiến tranh thế hệ cha anh đã sống và chiến đấu như thế nào. Và tôi chắc chắn rằng niềm tự hào lớn nhất của ông trước khi nhắm mắt xuôi tay chính là danh xưng Nhà văn! Nhà văn! Đối với ông hai tiếng ấy mới vang lên kiêu hãnh làm sao.  

B.Q.T