KỶ NIỆM 43 NĂM THÀNH LẬP HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT ĐỒNG NAI (22/12/1979 - 22/12/2022) - CHÀO MỪNG NHỮNG NGÀY LỄ LỚN NĂM 2022 - Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh!
HANG NHÀ TRÒ
 


 Truyện ngắn của Tiểu Linh

(Nguồn: TC Văn nghệ Đồng Nai số 54)

 

 Đêm. Trăng rải bạc sáng cả mặt sông. Dân cầm đèn pin xuống bến, soi lại chiếc thuyền. Nước dưới gầm loang loáng. Anh cầm gầu múc đổ xuống sông. Xong việc, Dân nằm trên thuyền, ngửa mặt nhìn vầng trăng đêm, mờ ảo trong ánh nhìn của chàng lái thuyền chưa một lần rời khỏi bến sông.

Bỗng có tiếng hát lạ, ngọt ngào, vang mọi ngõ ngách trên khúc sông. Tiếng hát vọng từ bên bờ kia sang. Chưa bao giờ Dân được nghe một bài hát hay đến thế.

Cô gái mù Kỳ Hương cắp chiếc rổ đựng đầy trầu cau. Cô bước nhanh xuống bến. Miệng cất tiếng hát vang. Ngồi kề mặt nước. Tay mân mê từng miếng trầu. Lựa từng đôi một bỏ xuống mặt sông. Nhìn bàn tay thoăn thoắt ấy, chẳng ai nghĩ cô không nhìn được mặt người đối diện.

Vừa nhặt trầu hạ sông, miệng vừa cất tiếng hát. Đêm chuyển mình theo nhịp thời gian. Kỳ Hương vẫn say sưa với công việc. “Hôm nay lâu quá” - Cô lẩm bẩm một mình - “Hứa mà không đúng hẹn”- vừa nói vừa thả từng đôi trầu cau xuống nước, điều đặc biệt là những đôi trầu cau ấy không chìm như bình thường. Trong phút chốc, Kỳ Hương cảm giác như mắt mình rất sáng, cô nhìn rõ từng đôi trầu cau trôi về phía mạn Ghềnh Đan.

Chiếc thuyền Đồng sáng rực một khúc sông. Nó đi ra từ mạn ghềnh. Hai người ngồi hai đầu. Một người chèo thuyền, người kia thổi sáo. Tiếng sáo vi vút trong đêm, lan tỏa khắp mặt sông. Kỳ Hương nhìn theo hướng đi của thuyền. Đêm thanh vắng. Vài người ở lán bên cạnh đã ngủ từ lâu. Chàng trai chèo đò chắc cũng say giấc nồng. Chiếc thuyền Đồng lướt nhanh. Cô gái tay cầm sáo trúc thổi. Réo rắt. Thuyền ra giữa mặt sông, chạm những cánh trầu. Cô gái hạ tay xuống nhặt từng đôi một xếp lên thuyền. Thuyền lướt theo bàn tay cô gái, đánh sóng nhẹ đập vào mạn. Tiếng sáo lặng đi giây lâu. Kỳ Hương thả hết trầu cau. Toan đứng dậy về. Cô gái cho thuyền vào sát mép nước. Gật đầu chào Kỳ Hương. Hương cúi đầu chào cô gái lạ. Không hiểu sao lúc ấy, Hương thấy rõ khuôn mặt sáng như ánh trăng. Trong đêm khuya, ánh trăng phủ đầy như soi kỹ hơn mỗi đường nét, đẹp lạ lùng. Cô gái quay mình trở lại hỏi Kỳ Hương muốn trả công bằng thứ gì? Cô ngẫm nghĩ rồi lắc đầu.

Cô gái bước lên bờ, hỏi:

- Trầu này do em têm phải không?

- Ngày bé theo bà lên chùa, sờ thấy lạ và làm theo. Mẹ bảo đấy là trầu cánh phượng. Em không biết.

Cô gái khen đẹp. Hạ cây sáo trúc xuống. Cô đưa ra bảo Kỳ Hương giữ làm kỷ niệm. Kỳ Hương không cầm. Nhưng khách vẫn dúi vào tay Hương. Đoạn bước lại thuyền. Màu đồng đỏ nguyên chất sáng rực cả khúc sông, ánh trăng nghiêng nghiêng chiếu vào thuyền, đẹp huyễn hoặc.

Kỳ Hương cầm sáo mang về nhà. Mọi người đã ngủ từ lâu. Chỉ mình cô bước nhẹ lên giường. Chị Ban thấy động, quay lại thấy em đang lom khom. Bèn tát cho nó một cái. Kỳ Hương đang mơ màng chợt tỉnh hẳn. Hình như có người đánh cô. Cô không hiểu. Nghĩ một lúc rồi nằm xuống. Ban thấy tay hơi đau. Những lời nói ngập ngừng vẫn còn vọng. Gió thu thổi mạnh đập vào cửa sổ. Trăng nhạt dần rồi lặn sau mây. Cửa sổ mở toang, lóng lánh những tia sáng cuối cùng. Đã sang ngày mới.

Chị Ban đẹp - một vẻ đẹp kiêu kỳ và dường như được sinh ra chỉ dành để ngắm. Chị luôn là niềm tự hào của cả họ hàng, của bố và của cả ngôi làng nằm chênh vênh với triền sông này. Chị ghét đứa em mù. Nó ngồi ở bậc cửa buồng, suốt ngày chỉ têm mấy miếng trầu, miệng bảo têm cho người nọ người kia. Toàn những người không ai biết, những người chưa ai từng nghe tên và có khi là những người vừa nghe khiến các cụ già trong xóm cũng giật mình vì đã chết cách đó hàng trăm năm. Đêm chưa buông đã thấy đi ngủ. Nửa đêm lại thấy lục tục từ đâu về. Rõ ràng không thấy nó trở dậy. Lâu dần chị Ban thấy lạ, nhưng rình mãi vẫn thấy ngủ say. Không biết đi đâu, và đi lúc nào. Sáng ra hỏi trầu têm hôm qua đâu, nó ngơ ngác bảo đưa cho người ta rồi. Chị Ban bảo nó ngớ ngẩn. Bố thì bảo cô không bình thường. Ai cũng hắt hủi cô. Chỉ mình mẹ, mỗi lần thấy người ta hắt hủi con gái, lại ra một góc vườn lau vội nước mắt.

Kỳ Hương có ba chị gái và một anh trai. Họ đã có gia đình. Chỉ duy nhất còn chị Ban. Chị kề cô, hát hay, múa giỏi và xinh đẹp. Bao nhiêu người đến với chị, chị từ chối cả. Chị yêu anh Dân và anh ấy cũng yêu chị. Kỳ Hương ngưỡng mộ mối tình của họ. Mỗi lần anh Dân đến, cô đều trốn vào trong. Chỉ cần anh đến cổng, cô đã biết anh đang bước vào nhà mình. Không biết trông anh thế nào. Cũng không biết vì sao chị Ban lại yêu anh đến thế!

“Cái xóm này đến lạ. Bao nhiêu gái đẹp đều tập trung về đây”- Kỳ Hương đang lọ mọ chui lên từ dốc bến thì nghe mấy gã trai làng nói chuyện với nhau. Rồi một người lên tiếng - “Tớ chưa bao giờ thấy cô út”- “Thì đã ai được thấy đâu” - Cuộc đối thoại khiến Kỳ Hương buồn cười. Cô không thích chốn đông người, lại nghe chị Ban bảo mình xấu nên cô chỉ ngồi trong góc màn. Chỉ khi đêm xuống mới một mình ra bến sông.


Hang Nhà trò - Tuấn Anh.jpg
Minh họa: Hứa Tuấn Anh


Kỳ Hương cũng không biết vì sao cô lại thích ra sông lúc nửa đêm. Và dường như chỉ khi ánh trăng tắm quanh vườn cây, cô mới có thể nhìn được cảnh vật trước mắt mình. Nhìn trong tưởng tượng. Đi trong mơ hồ. Như chiếc thuyền đồng. Như cô gái thổi sáo có vẻ đẹp huyễn hoặc kia, như từng đôi trầu cau thả trôi trên mặt nước, lấp loáng trăng đêm.

Dân hay đến nhà Ban chơi. Anh nghe vài người bảo em gái của Ban rất lạ. Anh muốn gặp nhưng khó quá. Yêu chị mấy năm mà chưa gặp em. Dân chỉ thấy cô em vợ tương lai lướt qua chỗ anh ngồi rồi mất hút. Cô gái ấy mang một nét kì bí của nhân gian.

Bà Hai Hồ sinh đứa con gái út vào một ngày rất lạ. Năm tuất, tháng tuất, ngày tuất và giờ tuất. Thuần âm nên phải mang đi bán cho chùa. Nuôi gần hai mươi năm mà những người trong làng hỏi nhau, nghe nói con mù xinh lắm. Kỳ Hương không biết thực ra mình xinh hay không?

Kỳ Hương nhè nhẹ bước ra khỏi giường, trên tay là cái rổ đựng đầy trầu cau. Chị Ban thấy động bước theo. Nó đi ra phía bến sông. Ban đi theo một đoạn rồi mất hút. Cô đứng giữa đường, không biết mình đang đứng đâu, cô òa khóc nhưng không ai nghe được.

Xuống đến bến sông, Kỳ Hương lại cất tiếng hát vang. Chiếc thuyền đồng lần này không lên. “Cô chúa đã cưới chồng rồi”. - Kỳ Hương lẩm bẩm một mình. Ngó lên cửa hang Nhà Trò, vòm kín bưng không một màu khác. Lại cất tiếng hát, mong có ai nghe để cùng làm bạn.

Dân đang mơ màng lại nghe tiếng hát. “Đó là tiếng hát anh đã nghe lần trước”. - Anh bật dậy bước nhanh xuống sông.

Kỳ Hương ngồi một lúc rồi đứng dậy về.

Dân chèo thuyền sang, không một bóng người. Anh cứ ngỡ mình mộng du! Chỉ nghe loáng thoáng rằng: “Một đêm không trăng, trầu cánh phượng thả trôi trên mặt nước. Có người hứa chèo thuyền qua lấy, chờ mãi không thấy đâu. Thoảng trong đêm tĩnh mịch, ta ngồi một mình ngắm bóng mình mờ ảo giữa làn nước… ”. Tiếng hát lạ. Câu chữ dùng lạ lùng. “Trầu cánh phượng thả trôi trên mặt nước. Có người hứa chèo thuyền qua lấy, chờ mãi không thấy đâu… ”. Là ý làm sao? Anh đâu có hứa với ai sẽ chèo thuyền qua lấy trầu cánh phượng. Dân ngồi trên thuyền cho trôi xuống phía dưới. Chẳng có gì ngoài cái vẻ tĩnh mịch của đêm.

***

Mọi người ồn ào chuyện Ban bị ma nhập. Phải đưa vào viện. Cô mê sảng mấy hôm liền. Dân vào thăm người yêu. Một đôi trầu cánh phượng để trên đầu giường. Chẳng lẽ đêm đó, người hát bài hát lạ lùng ấy là Ban sao. Có lẽ ngồi chờ Dân mãi không thấy sang. Ban về trúng gió. Mấy ông già rỗi việc, động đến cái gì cũng cho là ma nhập.

Dân gặp ông già nhất làng, kể câu chuyện mỗi đêm nghe hát cho ông nghe. Cụ hỏi Dân nghe phía nào. Anh chỉ về Ghềnh Đan. Cụ vuốt chòm râu bạc. Đấy chẳng phải cửa hang Nhà Trò sao? Cụ bảo ngày trước có cái hang thật. Mỗi bận trăng sáng, có ba thầy trò chèo thuyền đồng ra chơi. Trăng lấp loáng trên sông, người chèo, người hát, người thổi sáo, nôn nao cả khúc sông dài. Qua năm tháng lụt lội. Cửa hang chìm dần vào làn nước. Người ta vẫn quen gọi đấy là hang Nhà Trò. Vào mỗi dịp giữa thu, thi thoảng có người nghe tiếng sáo trúc réo rắt gọi người. Truyền thuyết kể vậy. Cha cụ ngày trước vẫn tin vào câu chuyện. Ông có thể nhịn thở ngâm mấy chục câu Kiều. Ông Cụ lặn xuống xem thực hư. Qua khỏi cửa hang, nước lạnh thấu tim gan, ông đi tiếp vào sâu, nước không nhiều lắm, dưới chân là bãi cát bồi, càng vào sâu càng lạnh, không khí u ám đến rợn người. Ông cảm thấy chạm phải một vật bằng sắt hay đồng nhôm gì đó, gõ ngón tay vào kêu beng beng. Có phải chiếc thuyền đồng trong truyền thuyết? Ông không dám chắc, nhưng vẫn tin câu chuyện trên có thật. Ông lờ mờ nhận thấy những thứ thả trên sông đều trôi vào đây. Làng này nửa thế kỉ lại có người đi tìm bí mật hang. Năm nay cũng đến kỳ hạn, chưa thấy xuất hiện ai. Chẳng lẽ là Dân. Chẳng lẽ chàng trai chèo đò này có thể làm điều ấy.

- Nếu cháu nghe được tiếng hát, có khi cháu sẽ khám phá ra một bí mật mới cho cái hang này. Chỉ có điều bao giờ, ông cũng không biết.

Dân trở về nhà. Mơ hồ nghĩ về những tiếng hát trong đêm. Mình đóng vai trò gì trong truyền thuyết ông cụ kể? Nhưng cũng từ hôm đó, Dân tập nhịn thở sâu, anh quyết định sẽ tìm hiểu đến cùng câu chuyện này. Anh nhất định phải vào cái hang đó. Anh phải biết sự thật về hang.

***

- Mày lại têm trầu hả Hương? Têm làm chi mà chăm vậy? Chị có thấy mày dùng bao giờ đâu?

Kỳ Hương không trả lời chị gái. Cô mang những thứ của mình đi thẳng vào trong. Đồ cô làm, không dành cho người dương gian. Những thứ này đã có người nhờ. Đêm nay trăng sáng, cô sẽ ra sông thả lên mặt nước, ngồi chờ người đến mang nó về.

Đêm buông xuống nhanh. Hương lên giường đi ngủ. Cây sáo trúc cô hay để trên đầu giường đâu nhỉ? Rõ ràng để dưới gối. Trăng bắt đầu lên. Cô lần tìm một lúc không thấy. Có ai đó lục đồ mình! Kỳ Hương ngồi dậy, thần mặt suy nghĩ rồi lại nằm xuống, ai đã lấy cây sáo của cô.

Cô thò tay ra ngoài để cảm nhận đêm đang về khuya. Ánh trăng chếch sang một hướng khác. Kỳ Hương đẩy chăn sang một bên, bước qua giường chị Ban mà không hề gây tiếng động. Cô lặng lẽ ra ngoài.

Cô đi như chạy trên đường làng. Cô cảm thấy có một sức mạnh đè nặng khắp tâm trí. Cô cần phải ra nhanh hơn. Cái rổ cắp bên hông, cô bước nhanh xuống. Trăng phủ một lớp bạc quanh khúc sông. Sóng đập mạnh vào chiếc thuyền gỗ buộc vát bên gốc cây. Kỳ Hương đi như người sáng mắt đến bên mặt nước. Thả những đôi trầu cau, lại cất tiếng hát. Kỳ Hương làm theo cảm tính. Đang say sưa với bài hát của mình thì nghe một tiếng bước chân rất nhẹ. Kỳ Hương quẳng mọi thứ và chạy lên dốc. Nghĩa địa về đêm tắm trăng sáng loáng. Cô chạy nhanh đến mức người kia đuổi không kịp.

Dân đứng im giữa ngã ba về làng và xuống nghĩa địa. Rõ ràng có người vừa chạy lên sao mất dấu nhanh vậy. Anh thoáng thấy chạy trước mình. Một cô gái. Cô hát bài anh vẫn hay nghe. Cô ấy vừa đứng đây đã mất hút trong một ngôi mộ nào. Dân thấy run run, cô ấy là ma? Nhưng sao mình lại có thể nghe được cô ấy hát? Phải chăng mình sắp chết? Không đúng. Nếu là ma sao anh nghe được tiếng hát, dù sao anh vẫn đang là người trần gian. Dân nhìn quanh một lúc rồi chầm chậm xuống sông. Cái rổ vẫn còn đó, bên trong đựng đầy trầu cau, những miếng trầu têm cánh phượng rất đẹp. Giống hệt hai miếng trầu để trên đầu giường Ban hôm nào. Dân cầm rổ mang sang lán. Hình như cô gái định thả trầu xuống sông. Nhưng thấy động nên cô chưa kịp thả miếng nào.

Khoảng nửa đêm. Dân nghe có tiếng sáo trúc vi vu. Tiếng hát lúc nãy hòa vào. Rồi anh nhìn rõ chiếc thuyền đồng lướt trên mặt sông. Thấp thoáng một dáng kiều nữ cúi xuống sông, cô quay ngược quay xuôi như đang tìm một cái gì đó. “Chiếc thuyền này ở đâu tới, một màu sắc kì bí lan tỏa khắp mặt nước”- Dân nghĩ mông lung rồi chậm bước. Anh nhìn kĩ hai người trên thuyền. Một nam một nữ. Đẹp lộng lẫy. Nét đẹp kì ảo và lạ lẫm. Anh lao nhanh xuống bến. Không thấy thuyền đâu nữa. Tĩnh lặng như chưa xảy ra chuyện gì. Lạ lùng, lại lóc cóc trở lên.

Người con gái tóc xõa dài, khuôn mặt đẹp mê hồn đứng ở cửa lán, tay giơ ra xin lại cái rổ đựng trầu cau. Dân vừa gật đầu đã không thấy bóng dáng cô đâu nữa. Tỉnh dậy, không thấy miếng trầu nào, cả cau cũng không. Chỉ duy nhất cái rổ vẫn nằm nguyên chỗ cũ, trong rổ là một cây sáo trúc. Dân cầm lên thổi. Âm thanh vi vu, anh cảm giác có một điều gì rất lạ nằm trong cây sáo trúc này.

Đêm ấy, Kỳ Hương về nhà muộn. Cô bước nhanh vào giường như không có gì xảy ra.

“Càng ngày con càng kì bí”. - Mẹ bây giờ cũng cảm thấy như vậy và lên tiếng. Muốn gặp con mà khó quá. Đêm nó đi ngủ. Không cho ai đến gần. Chị Ban và ba chẳng bao giờ để ý, họ chỉ mong cô đi đâu và không bao giờ trở về.

Nhà mời ông thầy cúng ở đâu về. Ông lải nhải căn nhà đầy âm khí. Khi ông đến bên giường Hương, ông bật trở ra lạy rối rít. Dân làng phát hoảng. Chạy ùa vào xem. Tưởng gì. Hóa ra ông nhìn thấy Kỳ Hương đang ngủ. Cả làng được một phen khiếp vía. Họ đã nhìn thấy cô gái mù thật. Nó kinh khủng quá. Một khuôn mặt đầy đủ các bộ phận nhưng giống như một con quỷ. Người nọ đồn tai người kia, với bảy phần ma ba phần người.

- Mẹ ơi. Hôm trước con gặp công chúa đấy. Cô ấy đẹp lắm.

- Ôi! lại còn thế nữa. Dở người nặng thật rồi. - Bà Hai Hồ lắc đầu. - Đã khó coi về hình hài, lại thêm không bình thường về biểu hiện, người ta sẽ nghĩ nó có vấn đề.

Quá thương con, bà Hai Hồ chạy ra bến sông ngồi khóc một mình.

 ​* * *

Dân chèo đò đi dọc Ghềnh Đan. Cô gái ngồi bên thành, Dân lấy tay gỡ que chèo, chẳng may gạt cô gái rơi xuống sông. Những người đi đò nháo nhác.

Dân nhảy vội xuống. Đoạn này nước sông rất sâu, ném cái sào tre xuống thấy sủi tăm, một lúc lâu mới nổi lên. Dân cảm giác mình đang bơi vào chốn không cùng. Cô gái chới với. Dường như có người đỡ cô lên. Dân đẩy hai bàn chân cho cô ngoi lên mặt nước. Anh nhìn thấy cửa hang chỉ che một nửa bằng phiến đá nên đã lách người đi vào.

Bên trong không có nước nhưng không gian âm u, lạnh thấu tâm can. Anh bước vào sâu hơn, mùi trầu cau quyện vào nhau, xộc lên mũi Dân. Đang dò chân bước thì bỗng dưng tay Dân chạm vào một vật cứng, gõ nghe leng keng. Anh đi dọc theo vật cứng đó và thấy kéo dài ra mãi. Cho đến khi chạm vào mái chèo thì anh nhận ra, đó là một con thuyền rất lớn. “Đây có phải con thuyền trong truyền thuyết về hang Nhà Trò không?”. -Dân tự hỏi.

Khi vẫn đang trong cơn mơ hồ, anh thấy có vật gì đó rơi vào chân, tiện tay anh nhặt lên định để vào túi áo. Lúc này, hương trầu cau xộc vào mũi. Mơ hồ, hoang mang. Trong không gian hoang dã này, bao nhiêu năm không có người sinh sống, vì sao lại có trầu cau ở đây? Dân đi một vòng quanh hang nhưng không thấy gì đặc biệt, anh ra cửa và bơi lên mặt nước.

Trên bờ, mọi người tập trung rất đông. Giữa mặt sông, nhiều người thi nhau lặn ngụp dưới nước, phía cuối dòng chảy, có mấy người đang thả lưới chặn. Dân ngước ánh nhìn lên mỏm đất cao, thấy bố mẹ đang khóc nức nở. Ngay giây phút Dân nổi lên mặt nước, tất cả người trên bờ lùi lại phía sau. Có người sợ hãi bỏ chạy. Hóa ra, anh đã lặn gần hai canh giờ. Dân nhìn xung quanh rồi bảo với mọi người, chỉ lặn một lúc là đến cửa hang, bên trong không có nước nên không bị sao cả. Khi Dân lấy từ trong túi áo ra mấy thứ vừa lượm được trong hang, mọi người kinh hoàng nhìn anh rồi truyền tay nhau xem. “Làm gì có ai vào hang mà có?” “Trầu còn xanh, cau còn tươi, hương vị phảng phất. Cậu chuẩn bị để mọi người tin về truyền thuyết hang Nhà Trò đúng không?”.

Ban tiến vào, cầm miếng trầu cánh phượng lên xem rồi thảng thốt: “Trầu này do chính tay Kỳ Hương têm”.

Mọi người ngạc nhiên nhìn Dân nghi hoặc, rồi ngước nhìn cửa hang. Dân nhìn Ban bối rối. Làm sao cô gái mù như Kỳ Hương có thể têm trầu cánh phượng đẹp như vậy!

 * * *

Buổi tối, Dân qua nhà Ban chơi. Thế nhưng hôm nay cô không ra đón anh như mọi ngày. Qua tấm rèm nhìn ra phòng khách, Ban chăm chú quan sát chàng trai mà cô đã hẹn hò mấy năm qua. Anh có gì đó rất lạ mà bao lâu nay vì quá yêu cô không nhận ra. Hôm nay, Dân hỏi rất nhiều về Kỳ Hương. Lại hỏi mỗi ngày cô bé làm gì. Ban bỗng sợ Dân như sợ Kỳ Hương. Tại sao bên cạnh cô lại có những người như vậy? Cô nghi ngờ tất cả.

Hôm nay, Kỳ Hương không ngồi trên giường têm trầu như mọi ngày. Cô đang khóc. Dân đến bên cạnh và đưa cho cô bé cây sáo trúc. Kỳ Hương mân mê cây sáo rồi lẩm bẩm: - “Đúng là nó rồi, cây sáo của em. Anh tìm thấy nó ư?”.

 Cả cái này nữa”- Vừa nói, Dân vừa đặt vào tay Kỳ Hương mấy miếng trầu. “Buổi tối đó là em phải không? Em chạy vào nghĩa trang để trốn anh. Thực ra em không như mọi người nói mà chỉ hay bị mộng du rồi ra sông thả trầu đúng không”?

Kỳ Hương không trả lời. Cô với tay lấy mấy miếng trầu rồi cầm cây sáo trúc và đi vào nhà sau. Dân chạy theo níu tay Kỳ Hương: - “Cây sáo này ai làm cho em?”. “Là người ta cho em”. - Dân cảm thấy không gian quanh mình bỗng trở nên kỳ lạ. Cô gái này có một cái gì đó rất đặc biệt, không thể diễn tả bằng lời. Anh đi theo Kỳ Hương vào nhà sau. Bên trong chiếc giường phủ kín màn không biết cơ man nào là trầu, xếp ngay ngắn và bỏ gọn trọng rổ. “Em chuẩn bị cho ngày vui của chị Ban, nhưng giờ chẳng có đám cưới nào cả. Chị Ban bảo, trầu em têm không ai dám dùng”. - Kỳ Hương toan hất xuống nhà.

- Ở làng này, chưa có ai têm trầu đẹp như em. - Dân nhặt từng đôi bỏ vào túi áo.

 * * *

Người làng trên đồn rằng, anh chàng đẹp trai chèo đò phải lòng cô gái mù chứ không phải người chị xinh đẹp. Có một điều kỳ lạ là cũng từ sau ngày gặp Dân, Kỳ Hương đã chịu bước chân ra ngoài vào ban ngày, đối diện mọi người. Buổi tối vẫn ăn cơm cùng gia đình.

Đêm nay, trăng sáng rực rỡ. Sau bữa cơm, cả nhà ra sân hóng gió. Kỳ Hương ngồi bên cạnh, tay thoăn thoắt têm trầu. Mẹ lật từng miếng trầu con gái têm, ưng ý lắm. Bố không nói gì, tay liên tục vo viên thuốc lào cho vào nõ điếu, thở dài.

Bà Hai Hồ cầm mấy miếng trầu xếp vào rổ cho con. Con gái bà hôm nay kỳ quá. Lần đầu tiên nó ngồi cùng gia đình, têm trầu trước mặt bà và chồng. Và cũng lần đầu tiên, khi mà giờ này nó vẫn chưa vào giường ngủ. Tất cả những gì xảy ra đêm nay dường như đều là lần đầu tiên.

Đêm khuya, mọi người cùng đi ngủ.

Khi tiếng gà gáy hồi thứ hai, Ban trở dậy không thấy em gái. Cô nhìn quanh nhưng không thấy Kỳ Hương ngồi têm trầu như mọi ngày. Từ đó về sau, chẳng ai còn nhìn thấy bóng dáng cô bé nữa. Bà Hai Hồ ngày ngày ngồi ở cửa buồng, nhìn chiếc giường phủ màn kín với những miếng trầu héo quắt queo.

Dân ngồi trên mũi thuyền ngắm từng miếng trầu, thi thoảng lấy sáo ra thổi, có lúc cao hứng lại hát những câu không đầu không cuối. Mơ màng. Hoang dã. Có lúc cười tủm tỉm một mình. Bố mẹ Dân hốt hoảng đi tìm thầy trừ tà nhưng khi vừa nhìn thấy anh, ông phán một câu rồi đi luôn. Hai hôm sau, không ai còn thấy Dân ở bến đò nữa.

Mọi cuộc tìm kiếm đều vô vọng. Cứ như Dân chưa từng xuất hiện trên đời. Bây giờ mẹ Dân mới khóc lóc kể về lời thầy phán. Dân yêu một người con gái kỳ lạ, không lâu nữa sẽ đến với người ta.

Bà Hai Hồ lên chùa xin phép đặt linh vị Kỳ Hương. Sư trụ trì bảo: - Con gái bà thuần âm. Cô ấy không ở chùa mà về một phương khác.

 * * *

 

Vài tuần nay, người đi nương về muộn trong những hôm trăng sáng thường nghe trong tiếng sáo du dương hòa cùng tiếng hát ngọt ngào. Thế nhưng, chưa ai từng được tận mắt chứng kiến người hát.

Nửa thế kỷ trôi qua, cuối cùng có người đồng ý ra chèo đò. Suốt một tuần, người làng vẫn ngóng về bến sông. Đêm nay, trăng thấp thoáng khi mờ khi tỏ. Bên trong căn lá nhỏ, chàng trai trằn trọc không ngủ được. Tiếng cú mèo từ xa vọng lại. Đang mơ màng nghĩ về bến sông, chợt nghe tiếng cười khúc khích của con gái. Anh đưa mắt nhìn quanh. Bỗng nhiên thấy mặt sông sáng rực. Một đàn cá trắng nhảy ngược dòng chảy như một tấm thảm kỳ dị. Cùng lúc đó, anh nhìn thấy một chiếc thuyền đồng lướt nhẹ ngược dòng theo đàn cá bơi. Hai người ngồi đối diện nhau, người con trai thổi sáo, cô gái tay thoăn thoắt têm trầu, miệng cất tiếng hát vang. Trong màn đêm tĩnh mịch, tiếng hát và tiếng sáo hòa quyện vào nhau. Chàng trai bước ra khỏi lán, chầm chậm bước xuống bến sông. Càng đến gần, anh càng bất ngờ bởi hai người thanh tú đang vừa đàn vừa hát dọc bến sông, tay cô gái thoăn thoắt têm trầu, miệng hát vang. Chưa bao giờ, anh nhìn thấy một người con gái đẹp như vậy. Chiếc thuyền đồng chuyển động nhẹ nhàng về hướng hang Nhà Trò, mặt sông như được dát bạc, lấp loáng, đẹp mê hoặc. Chàng trai đắm đuối nhìn người con gái đang ngồi trên thuyền đồng, bàn chân vô định bước nhanh xuống bến, chợt vấp phải đống củi khô để dọc lối đi. Anh kêu lên một tiếng. Tiếng hát và tiếng sáo bỗng ngưng hẳn. Ánh sáng mờ dần. Anh ngửng mặt lên, màn đêm lặng ngắt. Chẳng có gì ngoài dòng chảy về xuôi. Trăng cũng đã chếch về Tây buông chút ánh sáng cuối cùng. Hình như trời gần sáng…

T.L